BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Chè vằng – Quà tặng từ đất mẹ Quảng Trị

December 16, 2018
Vằng (danh pháp hai phần: Jasminum subtriplinerve C. L. Blume, thuộc họ Ô liu), còn gọi là chè vằng, chè cước man, cẩm văn, cẩm vân, dây vắng, cây lá ngón, mỏ sẻ, mỏ quạ, râm trắng, râm ri, lài ba gân, là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang, được người dân Việt Nam tại nhiều vùng miền sử dụng dưới dạng sắc thuốc hay pha nước uống, đặc biệt tốt khi dành cho các sản phụ.

Tác dụng cây chè vằng

Nghiên cứu dược lý chứng minh lá chè vằng có chứa alcaloid, nhựa, flavonoid, có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết thương và không độc.
Bộ phận dùng làm thuốc là cành, lá tươi hoặc cành, lá phơi sấy khô, thu hái quanh năm.

Chè vằng đặc sản Quảng Trị

Loại chè vằng được ưa thích nhất trên thị trường hiện nay chính là chè vằng Quảng Trị. Do đặc tính của vùng nguyên liệu chè vằng sẻ mọc hoang, chè vằng được thu hái từ vùng đất này có tác dụng dược lý mạnh hơn hẳn so với các loại chè vằng ở nơi khác. Vào mỗi sáng, người ta sẽ lên núi, thu hái những lá chè vằng tươi, còn đọng sương sớm mang về rồi cắt nhỏ, phơi khô khoảng 70-80% thì đem sao vàng hạ thổ, cho ra những lá chè vằng khô chất lượng nhất. Đấy là vào những ngày có nắng, còn những ngày sang thu, chè vằng khô được chế biến ít hơn do trời ẩm ướt và hay mưa. Thay vào đó, người ta thu hái lá về để nấu cao.
Toàn bộ lá chè vằng Quảng Trị được thu hái vào buổi sáng sẽ được chế biến ngay trong ngày theo một quy trình đạt chuẩn để cho ra loại cao chè vằng chất lượng nhất. Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay vẫn đang rao bán những sản phẩm lá chè vằng khô, được đảm bảo là tươi mới nhưng thực chất, thời tiết những ngày mưa này không đảm bảo để cho ra những sản phẩm lá chè vằng khô chất lượng. Chính vì vậy, người tiêu dùng nên thay thế sản phẩm chè vằng khô bằng cách lựa chọn cao chè vằng tại những địa chỉ uy tín để mua.

Chè vằng tại linh địa La Vang

Theo Tư liệu Tòa Tổng Giám Mục Huế – 1998, dưới triều đại vua Cảnh Thịnh (lên ngôi năm 1792), với chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn.
Họ đã đến lánh nạn tại núi rừng La Vang. Nơi rừng thiêng nước độc, hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu ăn, bệnh tật, sợ hãi quan quân, sợ thú dữ, các tín hữu chỉ biết một lòng tin cậy phó thác vào Thiên Chúa và Đức Mẹ. Họ thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.
Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng Giêsu, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Họ nhận ra ngay là Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân vui lòng chịu khó. Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Lá cây đó chính là cây Lá Vằng.
Lá Vằng- khi đọc không có dấu là La Vang- chính là tên gọi của Nhà thờ Đức Mẹ La Vang ở vùng này. Nay trở thành trung tâm hành hương, du lịch lớn và quan trọng nhất của người công giáo.

Bánh tét “mặt trăng” đặc sản vùng đất quảng trị

December 16, 2018
Với hình ảnh, hương vị đặc trưng, từ lâu, bánh tét “mặt trăng” được nhiều người biết đến. Ít ai biết món bánh này được “khai sinh” tại làng Đại An Khê, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng; Quảng Trị. Cứ mỗi độ gần Tết Nguyên đán, bếp lửa nấu bánh tét “mặt trăng” của các hộ dân ở làng Đại An Khê lại bập bùng suốt ngày đêm. Ở làng quê yên bình này, nhiều gia đình đã 3, 4 đời gắn bó với nghề làm bánh tét truyền thống.



Những đứa trẻ lớn lên được lớp người đi trước truyền dạy cách ngâm nếp, làm nhân, gói bánh… rồi gắn bó, yêu thích nghề lúc nào chẳng hay. Bà Lê Thị Diễm (81 tuổi), một người dân trong làng kể: “Khi còn nhỏ, tôi đã thấy ông bà, bố mẹ say sưa ngồi làm bánh. Lớn lên, tôi được mẹ chỉ dạy rất cẩn thận, chu đáo. Bánh tét “mặt trăng” là món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ dâng lên tổ tiên, ông bà ngày tết nên con cháu ai cũng phải biết cách làm”. So với bánh tét các vùng miền khác, bánh tét “mặt trăng” của người dân làng Đại An Khê mang những nét rất riêng. Bánh không tròn vạnh mà có hình bán nguyệt. Khi đem nấu, người ta cột hai chiếc bánh lại với nhau, có đôi, có cặp. Bà con làng Đại An Khê lý giải, đây là hình ảnh tượng trưng cho sự hòa hợp, hạnh phúc của vợ chồng. Khi cắt bánh tét “mặt trăng” ra, ấn tượng đầu tiên là sắc xanh của nếp bao quanh màu vàng óng của đậu khiến nhiều người liên tưởng đến hình ảnh mảnh trăng treo trên bức phông nền màu xanh no ấm. Theo những bậc cao niên ở làng Đại An Khê, chiếc bánh chính là sự gửi gắm thông điệp về một miền quê thanh bình, yên ả.

Hiện nay, một số người dân ở các miền quê khác cũng đã học được cách làm bánh tét “mặt trăng” nhưng không phải ai cũng có thể cho ra đời món bánh với màu sắc và hương vị đặc trưng như ở làng Đại An Khê. Theo ông Đào Bá Vây (một người dân làm bánh tét “mặt trăng” có tiếng ở làng), để bánh thơm ngon, trước hết, nguyên liệu phải được chọn lựa kỹ. Ông Vây cho biết, sắc xanh của bánh tét “mặt trăng” không phải làm do phẩm màu, hóa chất tạo ra mà nhờ một loại lá từ thiên nhiên đó là rau ngót. Người làm bánh ở làng Đại An Khê chú ý chọn rau ngót tươi xanh, xay nhuyễn lấy nước, rồi trộn với nếp trắng do chính tay mình gieo trồng. Không chỉ mang lại màu sắc như ý, lá ngót còn giúp bánh dẻo thơm, có thêm chất dinh dưỡng. Cũng theo ông Vây, trước đây nhân bánh làm từ đậu xanh luộc mềm, chà mịn đem xào với hành, tiêu, dầu ăn… cho đến khi dậy sắc, dậy mùi rồi mới đem đi gói. Ngày nay, đời sống khá giả hơn nên nhiều người cho thêm thịt heo ba chỉ vào để bánh có độ béo.

Trong quá trình gói, người làm bánh phải vừa cột, vừa nén để lớp vỏ bỏ không bị bung ra và đảm bảo phần nhân nằm chính giữa. Điều này đòi hỏi đôi bàn tay khéo léo và sự kiên trì của người làm bánh. Từ nhiều năm nay, bánh tét “mặt trăng” đã đến với thực khách các miền quê trong và ngoài tỉnh, thậm chí xuất ngoại. Một chiếc bánh thành phẩm nặng 1,3-1,4 kg có giá bán trên dưới 50 ngàn đồng. Trước đây, người dân làng Đại An Khê chỉ làm bánh chủ yếu vào các dịp lễ tết nhưng giờ đây vì số lượng đơn đặt hàng ngày càng nhiều nên gia đình ông Vây và tầm 10 hộ dân khác trong làng làm bánh bán quanh năm. Mỗi ngày, gia đình ông Vây làm trung bình 60 đòn bánh, lúc cao điểm lên đến 200 đòn.

Vào dịp lễ tết, vợ chồng ông Vây phải thuê thêm nhân công mới hoàn thành xong số lượng đơn đặt hàng. Người dân ở làng Đại An Khê hiểu việc mình đang làm góp phần giữ gìn nét văn hóa, truyền thống tốt đẹp của làng quê, gia đình. Không những thế, nghề làm bánh tét “mặt trăng” còn mang lại nguồn thu khá. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều người dân ở làng Đại An Khê vẫn không nguôi trăn trở bởi thấy nghề làm bánh truyền thống vẫn nằm trong khuôn khổ gia đình. Các hộ dân chưa có sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ với nhau sản xuất, kinh doanh. Bà con cũng không có bất cứ một “chiến lược” hay kế hoạch dài hơi nào để phát triển nghề, quảng báo thương hiệu…

Nhập quốc tịch Việt Nam cho 119 người Lào tại Quảng Trị

December 16, 2018
UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức lễ công bố và trao quyết định của Chủ tịch nước cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với 119 người Lào đang sinh sống tại xã A Dơi, huyện miền núi Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.


Tham gia lễ trao Quyết định có ông Nguyễn Công Khanh, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp; ông Hà Sỹ Đồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, đại diện lãnh đạo huyện Hướng Hóa, lãnh đạo xã A Dơi cùng 119 người Lào đang sinh sống trên địa bàn xã A Dơi.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Hà Sĩ Đồng cho hay, thực hiện thỏa thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Lào, tỉnh Quảng Trị và hai tỉnh có chung đường biên giới là Savannakhet và Salavan (Lào) đã tiến hành điều tra, khảo sát, thống kê trên địa bàn biên giới tỉnh Quảng Trị hiện có 855 trường hợp, trong đó cặp tỉnh Quảng Trị và Savanakhet có 25 hộ với 98 khẩu di cư tự do và 183 trường hợp kết hôn không giá thú. Cặp tỉnh Quảng Trị và Salavan có 42 hộ và 246 khẩu di cư tự do và 45 trường hợp kết hôn không giá thú.
“Việc hoàn thành công tác điều tra, khảo sát, thống kê và trình Trưởng Đoàn đại biểu biên giới Việt Nam phê duyệt danh sách đã thể hiện tinh thần nhân đạo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người di cư tự do, tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống, hòa nhập vào đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương”, ông Đồng nói.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Hồ Văn Ven - một trong những người được nhập Quốc tịch Việt Nam đợt này cảm ơn Đảng, Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho những người như ông được nhập quốc tịch Việt Nam; cam kết sinh sống, làm ăn lương thiện, luôn tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đề ra.
Ngay sau Lễ trao quyết định của Chủ tịch nước cho nhập Quốc tịch Việt Nam, 119 cá nhân đã được cán bộ chức năng hướng dẫn làm các thủ tục như: Đăng ký khai sinh, làm chứng minh thư nhân dân, đăng ký kết hôn.

Ngã ba và Nhà thờ Long hưng

December 16, 2018

* Vị trí chiến lược 
Ngã ba Long Hưng là tên gọi để chỉ một địa điển ở đoạn tiếp nối giữa QL 1A với một con đường chạy ven vùng ngoại vi phía Nam dẫn vào trung tâm thị xã Quảng Trị chừng hơn 1km về phía Đông Nam. Điểm tiếp nối này tạo ra một ngã ba nên có tên là Ngã ba Long Hưng. Địa điểm này gắn với một sự kiện lịch sử về một trận địa chốt của lực lượng chủ lực bộ đội chủ lực quân giải phóng trong cuộc chiến đấu chóng phản kích tái chiếm, bảo vệ thị xã Quảng trị 81 ngày đêm năm 1972.


Về không gian diễn ra cuộc chiến trên trận địa chốt Ngã ba Long Hưng  kéo dài từ ngã ba đi nhà thờ La Vang cách cầu Nhùng khoảng 1km về phía Bắc, cách thị xã Quảng Trị khoảng 2km về hướng Đông Nam, thuộc địa phận làng Phú Hưng, xã Hải phú, huyện Hải Lăng đến phía Nam cầu  trắng. Trên không gian này có hệ thống kênh mương tưới tiêu nhỏ đan xen đi qua khu vực ngã ba thuận tiện cho quân giải phóng khi tổ chức bố phòng, có nhà thờ Long Hưng nằm ngay bên trục quốc lộ 1A là những công trình đuợc xây dựng kiên cố, có gác chuông cao thuận lợi cho dùng làm nơi trú ẩn, làm công sự chiến đấu cũng như đài quan sát xung quanh khu vực. Ngoài ra, còn có các tuyến đường nối quốc lộ 1A đi La Vang, Tích Tuờng, Như Lệ… Đây cũng chính là hướng có điều kiện thuận lợi để triển khai binh hỏa lực lớn trên đuờng Quốc lộ 1.
Nhìn chung, ngả ba Long Hưng có vị trí rất quan trọng án ngữ trên trục đường quốc lộ và trên trục đường đi vào thị xã Thành cổ mà cả hai phía luôn quyết tâm đánh chiếm; nếu bên nào làm chủ được địa điểm này sẽ làm chủ được hướng tiến công vào thị xã từ hướng Nam và Đông Nam.
* Quá trình hình thành, mục tiêu, nhiệm vụ
Ngay sau khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc phản kích đánh chiếm Thành cổ và thị xã Quảng trị theo hai huớng chính thì trên huớng chủ yếu theo quốc lộ 1 (Sư đoàn dù (gồm 3 lữ đoàn), tăng cường hai thiết đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn pháo 155mm) thì chỉ sau một thời gian ngắn từ 28/6 – 3/7/1972, lực lượng quân VNCH đã nhanh chóng đánh chiếm lại các vùng giải phóng rộng lớn tại Bắc sông Mỹ Chánh, Thượng Xá, Nnam sông Nhùng và các điểm cao 28, 105 (hướng Tây) tạo nên thế bao vây tấn công vào thị xã Quảng Trị.
Xác định Ngã ba Long Hưng nằm trên hướng tấn công chủ yếu của quân lực VNCH nên sau khi mở cuộc phản kích, ngày 30/6/1972, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên – Thiếu tướng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ: “Trung đoàn 48 cùng với tỉnh đội Quảng Trị tổ chức phòng thủ khu vực la Vang, Tích Tường, Ngã ba Long Hưng, nhà ga Quảng Trị, Trí Bưu dùng chướng ngại vật kết hợp với hỏa lực tổ chức chiến đấu chặt chẽ, kiên quyết không cho địch lọt vào thị xã. Ban chỉ huy Trung đoàn phải trực tiếp tổ chức, đôn đốc, kiểm tra mọi mặt xây dựng các trận địa trong khu vực phòng thủ đảm bảo khẩn trương và chiến đấu có hiệu quả nhất”.
* Lực lượng tham chiến cả hai phía
Về phía quân lực VNCH, ngay sau khi mở cuộc phản kích tái chiếm Thành cổ và thị xã Quảng Trị, lấy hướng đường số 1 làm hướng tấn công chủ yếu và do Lữ đoàn 2 Dù đảm nhiệm có xe tăng, máy bay B52, pháo binh hỗ trợ chi viện. Thực hiện âm mưu tiến công ồ ạt nhằm “đánh nhanh thắng nhanh” tiến thẳng vào Thành cổ và thị xã Quảng Trị, chỉ đạo chung của quân Dù ở đường số 1 và cánh Tây do tư lệnh Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn Dù 2 là Lữ đoàn đầu tiên của quân lực VNCH được Trung tướng Ngô Quang Tưởng – Tổng tư lệnh quân đoàn 1 chiến thuật giao nhiệm vụ cắm cờ lên Thành cổ Quảng Trị.
Về phía quân giải phóng, thực hiện chủ trương của Tư lệnh Mặt trận, tại trận địa chốt Ngã ba Long Hưng giao cho Trung đoàn 48, Sư 320B chỉ huy và bố trí lực lượng. Từ 3 – 10/7/1972, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ chốt giữ phía Nam Ngã ba (phía Đông La Vang), cách cầu Nhùng 1km về phía Bắc, làm nhiệm vụ đánh địch từ xa. Từ ngày 6 đến cuối tháng 7/1972, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư 320B vào thay.
Cũng chính vào thời gian này tại Ngã ba Long Hưng mới hình thành trận địa chốt hoàn chỉnh, từ công tác chuẩn bị, xây dựng công sự, hầm hào trú ẩn, tổ chức đội hình, bố trí lực lượng, tổ chức chỉ huy có Ban chỉ huy trận địa chốt là Đại đội trưởng Tạ Đình Dọng và hai chính trị viên là Vũ Trung Thướng và Lê Xuân Lý. Từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 8 địa điểm chốt Ngã ba Long Hưng do Trung đoàn 88, Sư 308 đảm nhiệm chung thực hiện việc ngăn chặn bảo vệ Thành cổ và thị xã từ hướng Nam và Tây Nam trên đường Quốc lộ 1 từ Ngã ba Long Hưng đến phía Nam cầu Quảng Trị và khu vực trường Bồ Đề.
Diễn biến và kết quả của trận địa chốt Ngã ba Long Hưng trong cuộc chiến chống phản kích tái chiếm bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972.
Cuộc chiến đấu ác liệt nhất giữa quân giải phóng và quân VNCH trên Ngã ba Long Hưng bắt đầu khi Lữ đoàn 2 Dù được giao nhiệm vụ tiến công nhanh vào thị xã Quảng Trị và cắm cờ lên tòa Thành cổ. Mục tiêu ban đầu theo kế hoạch “tái chiếm” của quân lực VNCH là ngày 3-7-1972 phải chiếm lại thị xã Quảng Trị, nhưng không thực hiện được, mãi đến những ngày tiếp theo, do yêu cầu hội đàm Paris đến gần, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải cắm cờ lên Thành cổ trước ngày 13-7-1972, tức trước ngày hội đàm Paris diễn ra. Vì danh dự của Tướng Ngô Quang Trưởng cũng như củng cố uy lực của quân đội VNCH, Lữ đoàn Dù 2 đã tập trung mọi lực lượng mở nhiều đợt tấn công vượt qua ngã ba Long Hưng tiến nhanh vào thị xã. Do vậy, trong giai đoạn đầu của cuộc chiến 81 ngày đêm trên trận điạ chốt Ngã ba Long Hưng đã diễn ra những cuộc chiến ác liệt nhất. Đến cuối tháng 7, quân Dù vẫn không thể vượt qua trận địa chốt của quân giải phóng để hoàn thành nhiệm vụ mà ngược lại còn tổn thất nặng. Nhiệm vụ đánh chiếm Thành cổ Quảng Trị phải nhường lại cho quân Thủy quân Lục chiến. Cũng chính vì vậy, những trận chiến trên trận địa chốt Ngã ba Long Hưng diễn ra cầm chừng. Mặt khác, trong thời gian này, về phía quân giải phóng cũng bị tổn thất lớn, không đủ lực lượng để dàn trải nên phải lui quân về củng cố và chiến đấu trong lòng thị xã, bảo vệ tòa Thành cổ.
Trong thời gian giữ chốt từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 8 năm 1972, trên địa bàn Ngã ba Long Hưng đã xảy ra nhiều trận chiến đấu trong đó có những trận tiêu biểu như: trận đánh mở màn ngày 3-7-1972, trận đánh quyết liệt nhất vào ngày 12-7-1972.
Ngày 28-6-1972, cuộc hành quân phản công tái chiếm lấy mật danh “Lam sơn 72” bắt đầu thì chỉ sau một thời gian ngắn, đến 3-7-1972 cánh quân dù của tiểu đoàn 11, lữ đoàn 2 trên đường số 1 thuộc hướng tiến công chính đã đến thượng Xá, Nam Sông Nhùng. Tại đây, quân dù nhanh chóng cũng cố thế đứng chân. Đến 6h ngày 3-7, quần dù vượt cầu Nhùng tấn công vào phía Nam Ngã ba Long Hưng (đoạn giáp đường sắt, phía Đông Nam La Vang) do 1 Trung đội của đại đội 11, Tiểu đoàn 3 chốt giữ. Sau hơn 1 giờ dùng máy bay và pháo bắn vào trận địa chốt của quân giải phóng, đại đội đi đầu của quân VNCH có xe tăng chi viện, xông lên chốt. Các chiến sĩ quân giải phóng vượt qua bom đạn ác liệt, kiên trì chờ quân VNCH tiến vào thật gần mới đồng loạt nổ súng. Bị tấn công bất ngờ nên đã có  43 quân VNCH bị diệt ngay trước trận địa. 8h cùng ngày quân dù buộc phải rút lui. Một tổ quân giải phóng từ trận địa xuất kích tiêu diệt thêm một số quân. Sau thất bại, quân VNCH lùi ra xa, dùng hỏa lực bắn phá liên tục vào trận địa, chuẩn bị cho đợt tấn công mới. 14h quân VNCH tiếp tục tiến công. Nhờ công sự vững chắc của địch để lại và hỏa lực bố trí liên hoàn của địch yểm hộ cho nhau từ nhiều hướng, nên mỗi lần địch xông lên là mỗi lần ta tiêu diệt thêm. Sau 4 lần tấn công, quân dù chẳng những chiếm được chốt của đại đội 11, mà còn bị thiệt hại nặng, thương vong 12 người, hết đạn sau 1 ngày liên tục chến đấu; hơn nữa do địch bắn phá ác liệt  kéo dài nên lực lượng còn phải  rút về phía sau. Đây là trận đánh đầu tiên của lực lượng bảo vệ thị xã.
Sau thất  bai trận đánh đầu tiên vào Nam Ngã ba Long Hưng, quân VNCH đã chuyển hướng mở các cuộc tấn công vào những điểm quân giải phóng chưa bố trí được lực lượng chốt giữ như Đại Nại, An Thái và đã nhanh chóng lấy được khu vực này làm uy hiếp thị xã ở hướng Đông Nam. Trước tình hình đó, ngày 6-7-1972, trung đoàn 48 điều Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 xuống chốt chặng Ngã ba Long Hưng. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ Đại đội 5 đã tập trung xây dựng lại trận địa chốt, bố trí lực lượng, chuẩn bị mọi công tác cho chiến đấu lâu dài.
Sau hơn 10 ngày tác chiến ,với hơn 20.000 quân tinh nhuệ  và hàng vạn tấm bom đạn, quân lực VNCH dồn hết sức tấn công nhưng cuộc hành quân “Lam sơn 72” vẫn không đạt được kết quả mong muốn; trong khi đó, thời gian hội đàm Paris đang đến gần. Trước tình hình đó, Mỹ và chính quyền VNCH đã chỉ thị cho cấp dưới bằng mọi giá phải cắm cờ lên tòa Thành cổ trước ngày 13-7-1972.
Thực hiện chỉ đạo của cấp trên, sáng 10-7, quân VNCH tập trung một lực lượng lớn gồm bộ binh và xe tăng ở các khu vực làng Đại Nại, An Thái trên đường Quốc lộ 1 nhằm tiến nhanh đến thị xã Quảng Trị.
Về phía quân giải phóng, Ban Chỉ huy yêu cầu các trận địa pháo của chiến dịch cùng hỏa lực của các đơn vị phòng ngự chuẩn bị mọi lực lượng đánh lại các đợt tiến công. Chốt ngã ba Long Hưng lúc này do Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 chốt giữ nằm trên tuyến hành quân quan trọng của quân VNCH. Nắm lấy thời cơ pháo quân giải phóng bắn, quân VNCH và lực lượng này ra khỏi Long Hưng, tạo thế bố trí chốt giữ vững chắc ở một ngã ba quan trọng trên đường số 1.
Sau đợt tập kích ngày 10-7, phán đoán tình hình quân VNCH sẽ tăng cường lực lượng và phi pháo tiếp tục mở cuộc tiến công trên các hướng để vào thị xã, quân giải phóng tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, sửa sang lại hầm hào trận địa chốt. Theo kế hoạch ngày 12-7-1972 (trước ngày họp bàn tại hội nghị Paris), chính quyền  VNCH tập trung binh hỏa lực với mật độ cao nhất để thực hiện âm mưu “tái chiếm thị xã Quảng Trị”. Trên tuyến quốc lộ 1A phía Đông Nam thị xã Quảng Trị, Lữ đoàn Dù 2 kết hợp xe tăng tổ chức tiến công vào La Vang, Long Hưng. Trước khi quân Dù tiến công, hàng loạt máy bay B52, pháo từ Đại Nại (khu vực giáp Long Hưng đã bị quân đội  VNCH chiếm lại), pháo từ hạm đội ngoài khơi bắn vào tới tấp đã làm cho một số hầm hào của quân giải phóng sạt lở, chiến sĩ bị thương… Sau đợt máy bay rải thảm, pháo dọn đường, sáng ngày 12-7-1972, khoảng một trung đội lính VNCH có xe tăng tiến vào chốt ngã ba Long Hưng. Lúc này, Đại hội 5 quân giải phóng chỉ còn 30 tay súng chốt giữ. Đội hình được bố trí thành tam giác, mỗi hướng mỗi trung đội. Các trận địa chốt đã có công sự chiến đấu, phòng tránh và hầm hào cơ động với vũ khí Trung liên, cối 60mm, B40, B41, thủ pháo, lựu đạn đủ cơ số chiến đấu. 7h ngày 11-7, khi pháo địch bắn phá vừa dứt, một trung đội địch từ xóm Đại Nại tiến về Long Hưng, nơi bố trí của Trung đội 3, địch cho xe tăng dừng cách chốt của ta từ 700-800m, dùng pháo và súng máy trên xe bắn thẳng vào chốt để dọn đường cho bộ binh xung phong. Đại hội 5 phán đoán đây chỉ là hướng nghi binh vì trong lúc đó lực lượng chính của Tiểu đoàn 9 Dù đang lặng lẽ luôn qua các xóm, bí mật đi về hướng Đông, chuẩn bị đáng một đòn bất ngờ vào hướng trái của Đại hội 5. Các đài quan sát các hướng của Đại hội 5 theo dõi chặt chẽ các động thái của địch. Giữa lúc đó, Đại đội trưởng bị thương nặng, Chính trị viên đã ra lệnh cho các chốt bí mật chờ địch đến thật gần mới nổ súng. Khi chúng chỉ cách trận địa chốt một vạt ruộng, bất ngờ, một máy bay trinh sát OV-10 lao xuống bắn một quả đạn khói vào đám ruộng có bộ binh của chúng đang tiềm nhập, 2 chiếc máy bay B57 bổ nhào ném bom xuống đám khói vừa bốc lên, bom nổ trúng ngay đội hình của quân VNCH. Không giữ đuợc bí mật nữa, quân VNCH xô nhau chạy toán loạn. Thừa cơ Đại dội 5 đồng loạt nổ súng tiêu diệt. Bị bắn dồn dập, kể cả đạn hóa học vào trận địa của Đại đội.
               Đến 8 giờ 30 phút ngày 11-7, quân VNCH lại chia làm 3 mũi tiến công vào trận địa chốt của Đại đội 5 quân giải phóng. Hướng Trung đội bộ binh 1 bố trí ở Tây Bắc đường 1, do Đại hội phó trực tiếp chỉ huy, đã dùng hỏa lực chặn địch và cho từng tổ xuất kích đánh vào cạnh sườn buộc chúng phải rút chạy. Hướng Trung đội bộ binh 2 bố trí phía Bắc làng Long Hưng chờ địch vào gần mới nổ súng. Khi 3 xe tăng của địch tiến gần, một chiếc đi đầu bị trúng đạn B40 bốc cháy, bộ đội dùng B40, AK, trung liên bắn chặn phía trước, cối 60mm, 82mm của Trung đoàn bắn chặn phía sau. Cùng lúc đó, bị hỏa lực của Trung đội bộ binh 3 bắn tạ sườn chi viện, quân VNCH không chịu nổi, rối loạn quay đầu tháo chạy. Đợt 2 tiến công thứ 2 của địch bị bẻ gãy, chúng gọi phi pháo bắn mạnh vào trận địa của ta. 10 giờ 45 phút, địch tập trung tiến công vào Trung đội bộ binh 3 bố trí ở Tây Nam làng Long Hưng, do Chính trị viên đại hội trực tiếp chỉ huy. Bộ đội để địch vào cách 20m mới đồng loạt nổ súng và ném lựu đạn. Địch bị diệt nhiều tên, phải bật trở lại, tiếp tục dùng hỏa lực chế áp vào trận địa, kéo theo hơn 100 xác. Sau trận đánh ngày 11-7, Đại đội 5 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.
               Kết thúc đợt tấn công này quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 quân lính VNCH, bắn cháy 5 xe tăng, thu được 40 khẩu AR15, 20 khẩu M79, 5000 viên đạn các loại và hàng nghìn quả lựu đạn.
               Về phía quân giải phóng đã hy sinh 6 người, bị thương 10 người, hỏng 12 khẩu AK.
               Với chiến thắng trong trận đầu tại chốt ngã ba Long Hưng đã làm tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ bàn đạp quan trọng trên hướng Đông Nam Thành cổ Quảng Trị, ngăn chặn âm mưu tái chiếm trong thời gian ngắn. Trận đánh thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của cán bộ chiến sĩ trên toàn mặt trận và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các trận đánh tiếp theo.
               Sau khi được giao nhiệm vụ tiến nhanh theo QL 1A vào cắm cờ lên tòa nhà Thành cổ, Lữ đoàn Dù của quân lực VNCH không thể thành công khi chưa qua được chốt ngã ba Long Hưng của quân giải phóng. Chính vì vậy, những ngày tháng tiếp theo trên chốt ngã ba Long Hưng tiếp tục diễn ra nhiều trận chiến ác liệt giữa hai bên. Chỉ trong 7 ngày chiến đấu từ ngày 11-17-7, Đại hội 5 đã
đánh gần một trăm trận lớn nhỏ, tiêu diệt hai đại đội của Tiểu đoàn Dù, đánh thiệt hại nặng hai đại đội Tiểu đoàn 9 Dù, bắn cháy và hỏng 10 xe tăng. Chính trị viên Vũ Văn Thướng vừa trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở mũi chính vừa làm tốt công tác tư tưởng phổ biến kịp thời chỉ thị, nghị quyết và kinh nghiệm chiến đấu cho bộ đội. Đại đội 5 và Chính trị viên Vũ Trung Thướng được toàn mặt trận nêu gương học tập. Đến ngày 19-7-1972, Đại đội 5, tiểu đoàn 2 được lệnh rút về chốt giữ phía Đông Bắc thị xã. Trên mặt trận phía Nam thị xã giao cho Tiểu đoàn 8 tỉnh đội Quảng Trị đảm nhiệm.
Từ cuối tháng 7, sau nhiều đợt tấn công vào Ngã ba Long Hưng của sư đoàn Dù không thành, đến ngày 27-7-1972, Tướng Ngô Quang Trưởng phải rút Sư đoàn Dù ra củng cố và đưa Sư đoàn Thủy Quân lục chiến vào tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Sau khi vào thay quân Dù, Thủy quân Lục chiến tập trung lực lượng quân, phương tiện tấn công sang La Vang, Tích Tường, Như lệ, đánh xuống đường sắt, đường số 1, qua Long Hưng, nhà ga,… bao vây thị xã Quảng Trị ở hướng Tây Nam. Cũng trong thời gian này, tiểu đoàn 2, trung đoàn 58 rút lui về chiến đấu tại Trị Bưu và góc Đông Bắc Thành cổ, toàn bộ vào Long Hưng, tiếp tục bảo vệ Thành cổ và thị xã Quảng Trị ở sườn Nam và Tây Nam. Tuy nhiên, thời gian này, trên các trận địa chốt không còn diễn ra những trận đánh quyết liệt vì hội đàm Paris đang tạm dừng và hơn nữa cả hai phía cũng chịu nhiều thiệt hại cần củng cố.
Đến cuối tháng 8, đầu tháng 9, lợi dụng thời tiết đầu mùa mưa bão, nước các sông dâng cao làm ngập toàn bộ thị xã gây nhiều khó khăn cho quân giải phóng, quân VHCN đã đẩy mạnh hoạt động phi pháo vào các trận địa chốt của quân giải phóng và nhanh chóng vào được nhiều khu vực trong thị xã, buộc quân giải phóng phải rút lực lượng vô phòng thủ tại thị xã và Thành cổ. Đến đây, các trận địa chốt vòng ngoài như Ngã ba Long Hưng đã không còn giữ vai trò quan trọng.
Như vậy, sau gần 2 tháng bám trụ, những chiến sĩ chốt giữ trận địa Nga ba Long Hưng mặc dù phải đương đầu với đội quận VNCN có hỏa lực mạnh, lại phải chiến đấu trong một điều kiên hết sức khó khăn, thiếu thốn nhưng các chiến sĩ quân giải phóng vẫn không một phút ngơi nghỉ, kiên quyết không cho một tên địch lọt vào thị xã. Trong thời gian chiến đấu, các chiến sĩ trên chốt Ngã ba Long Hưng đã thực sự trở thành “lũy thép” kiên cường trên một ngã ba được mệnh danh là “Ngã ba bom”, “Ngã ba lửa”. Ở đây họ đã nêu những tấm gương cảm tử cho Thành cổ Quảng Trị, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cả đất nước.
      Ngã ba Long Hưng cùng với những trận địa chốt khác trong cuộc chống phản kích bảo vệ Thành cổ 81 ngày đêm đã đi vào lòng người dân Quảng Trị niềm kính phục và tự hào về những chiến công bất diệt.