BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Có nên thờ cả Chúa và Phật trên một bàn thờ không?

December 15, 2017

Phật Thích Ca dạy từ bi quảng đại thương chúng sinh, Giêsu Christ dạy bác ái thương người. Phật cứu người ra bể khổ sông mê, Chúa dạy cứu người thoát cơn họan nạn. Phật, Chúa bao giờ cũng kêu gọi hòa bình, đoàn kết; Phật Chúa là những nhà du thuyết hòa bình, không có chiến tranh giết hại tàn sát lẫn nhau.


HỎI: Con là phật tử và chồng con là một người có đạo. Thật sự gia đình chúng con không có vấn đề phức tạp nhiều về tôn giáo vì chúng con đều tôn trọng lẫn nhau. Chồng con cũng thích nghiên cứu Phật giáo và con cũng hay đi nhà thờ với chồng con.

Tuy nhiên thật sự chúng con đang có vấn đề không biết nên trang hoàng bàn thờ như thế nào cho đúng. Chúng con sống ở nhà riêng không phụ thuộc vào hai gia đình. 

Tuy nhiên nếu để cả bàn thờ ông bà rồi hai bàn thờ Phật và Chúa cả lên, chúng con thấy không ổn. Chồng con luôn chiều ý con và để cho con vui tùy thích muốn thế nào cũng được. Tuy nhiên, điều này lại làm con cảm thấy áy náy, nhất là những ngày tết và giỗ chạp càng khó khăn hơn vì con luôn muốn cúng chay còn chồng con theo đạo việc cúng giỗ không cần thiết, có khi chỉ là thắp nhang. 

Xin Sư cho con biết chúng con nên làm như thế nào để việc thờ phượng được hài hòa và gia đình con cái đều vui vẻ với nhau.

ĐÁP: Việc thờ Phật, thờ Chúa:

Năm 1960, Sư xuất gia tại Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh, Bà Rịa Vũng Tàu, địa phương này đạo Ki-tô nhiều hơn đạo Phật. Tuy nhiên chỉ có Tổ đình Linh Sơn là có tới năm sáu trăm tăng, ni tu hành. Tại tổ đình vẫn có một bàn thờ Giêsu Christ, hỏi ra thì mới biết có 03 nguyên nhân thờ: một là để tỏ lòng thiện cảm với cho người Ki-tô hữu, hai là để tỏ tình đoàn kết các tôn giáo tại địa phương, ba là thờ bậc thánh xuất thế khuyến thiện loài người.

 Ngoài ra, trong giới phật tử của tổ đình cũng có một số gia đình: chồng hoặc vợ theo đạo Ki-tô, do đó thờ Giêsu Christ là để dung hòa giữ gìn hạnh phúc cho những đôi vợ chồng có người theo đạo Ki-tô. Một phật tử theo Tổ đình Linh Sơn nay là 55 năm, ông hiện nay ngoài 80 tuổi, vẫn còn sống ở Bình Hòa, Tp.Hồ Chí Minh. Ông là phật tử thì thờ Phật Thích Ca bên tay trái, từ ngoài nhìn vào, bà theo đạo thờ Giêsu Christ bên tay phải từ ngoài nhìn vào, như vậy gia đình này Thầy ai nấy giữ, Thánh ai nấy thờ không có gì xung đột từ 55 năm qua. Thỉnh thoảng Sư có đến thăm ông cụ rất vui vẻ.

Đạo ai nấy thờ, thánh ai nấy giữ, đạo nào cúng kiến theo đạo nấy thấy cũng vui vui, rất hạnh phúc.

Trích một vài lời Phật dạy:

Trong cộng đồng con người chúng ta phải có nơi nương tựa để có cuộc sống ấm áp trước những cơn đại hồng thủy, an cư lạc nghiệp trước những cơn mưa gió bão bùng, sấm sét, lũ quét, lũ lụt, sự nương tựa đó chính là niền tin vào tôn giáo, đấng cứu thế. Tuy nhiên phải tùy duyên phận mà chúng ta đi theo đạo, hoặc đạo Chúa hay đạo Phật, hay các đạo khác.v.v...

Ở một đoạn trong Kinh Pháp Cú, đức Phật khuyên: Con người khi bị sợ hãi không nên nông nổi tựa vào núi rừng, hang động, cây cỏ, miếu thờ. Không có nơi nương tựa nào như thế mà an toàn cả, không có nơi trú ẩn nào như thế là tối thượng cả. Không thể nhờ vào các nơi nương tựa như thế mà giải thoát được tất cả các điều bất hạnh. Ai biết nương tựa nơi đức Phật, Pháp và Tăng sẽ có hiểu biết chân chính về Tứ Diệu Đế - Khổ, nguyên nhân của Khổ, Diệt Khổ, và Bát Chánh Đạo dẫn đến chấm dứt Khổ. Đó mới thật là nơi nương tựa an toàn. Tìm nơi nương tựa như thế mới giải thoát khỏi khổ đau. (Câu 188-192)

Francis Story, một học giả Phật giáo nổi tiếng, đã nêu quan điểm của ông trong việc tìm nương tựa nơi đức Phật như sau: "Con đến quy y nơi đức Phật. Con mong tìm sự hiện diện của đấng Đại Đạo Sư mà do lòng từ bi của Ngài con được hướng dẫn vượt qua dòng thác dữ của luân hồi, do vẻ mặt thanh tịnh của Ngài con được nâng lên khỏi vũng bùn lầy của các tư tưởng tham đắm thế gian, nơi đây con cũng thấy được sự bảo đảm chắc chắn của an lạc Niết bàn mà chính Ngài đã đạt được.

Trong phiền não đau đớn, con quay về với Ngài, và trong hạnh phúc con tìm thấy ánh mắt trầm lặng của Ngài. Con đặt trước hình ảnh Ngài không những hoa và hương, mà cả những ngọn lửa đang cháy trong tâm con luôn dao động để được dập tắt và lắng êm. Con đặt xuống đây cái gánh đầy của tự kiêu và tự ngã, cái gánh nặng của lo toan và khát vọng, cái khối nhọc nhằn của sinh tử tái diễn không ngừng".


Sri Rama Chandra Bharati, một thi sĩ Ấn, cũng giải thích rất ý nghĩa về việc tìm nương tựa nơi đức Phật như sau:

"Con nương tựa nơi Ngài không vì lợi lạc
Không phải vì sợ Ngài, hay muốn nổi danh
Không phải như mưa đá từ mặt trời vận chuyển
Không phải mong đạt kiến thức rộng sinh
Nhưng là do sức mạnh của tình thương không ngăn cách
Ở nơi Ngài tầm mắt vô song bao quát
Cho con an toàn vượt qua biển luân hồi
Con đê đầu, Bạch Đức Thế Tôn, con xin thành kẻ theo Ngài ".

(Theo sách Vì Sao Tin Phật - Thích Tâm Quang dịch)

Cách thức phụng thờ

Gia đình chỉ cần thiết lập 01 bàn thờ, bên phải thờ đức Giêsu Christ, bên trái thờ Phật Thích Ca, thờ 02 vị Giáo chủ như thế nhưng chỉ sắm một lư hương, 03 chun nước, 01 bình bông, 01 dĩa trái cây có đầy đủ nhang đèn, nhưng tất cả chỉ là 01 phần chứ không sắm 02 phần.

Khi cúng kiến thì bạn vẫn cúng chung không nên vái nguyện đơn lẻ. Như vậy lư hương chung, 03 chun nước chung, bình bông chung, dĩa trái cây chung, chung một bàn thờ, hạnh phúc an lạc biết bao khi bạn đến bàn thờ chung lễ lạy. Bạn vẫn còn phân vân, không biết thờ như vậy có đúng và được không?

Sư trả lời: “Thờ như thế là hòa đồng tôn giáo, sum họp một nhà, gia đình không ly tán thân tâm, nếu các bạn khắc kỷ quá gia đình sẽ mất hạnh phúc".

Phật Thích Ca dạy từ bi quảng đại thương chúng sinh, Giêsu Christ dạy bác ái thương người. Phật cứu người ra bể khổ sông mê, Chúa dạy cứu người thoát cơn họan nạn. Phật, Chúa bao giờ cũng kêu gọi hòa bình, đoàn kết; Phật Chúa là những nhà du thuyết hòa bình, không có chiến tranh giết hại tàn sát lẫn nhau. Các bạn sống chung trong một môi trường như thế chắc chắn an cư lạc nghiệp, phú quý vinh hoa.

Chúa có thể cứu một người điên tỉnh lại, Phật giác ngộ một người tà kiến trở về chính kiến. Chúa cứu khổ một người đói, Phật tháo gỡ nạn dốt nát cho người đứng lên thoát khỏi nghèo đói lầm than. Chúa muốn cho mọi người giàu sang quý phái, Phật muốn cho thế giới đại đồng, xóa tan giai cấp người bóc lột người.

Năm 1965, Sư và Sư Giác Nguyên học ở Phân khoa Đại học Vạn Hạnh, tại Thánh đường Cơ Đốc Phục Lâm, học với Mục sư Hiệu trưởng là Phạm Thiện, hằng ngày vẫn tới thánh đường học tập, cúng kinh, thực tập theo các động tác của tín hữu, vẫn phải quỳ trước tượng chúa cúng với các tín hữu cúng kinh ngày thứ sáu. Sư thấy việc làm này chẳng có gì là kỳ thị nữa.

Không trở ngại trong việc lập gia đình với người khác đạo

Tại Quan Âm Tu viện, rất nhiều phật tử lập gia đình với đạo Kitô, nhưng rất hạnh phúc, như: Gia đình Lâm Phước Điền, các con của cô giáo phật tử Huỳnh Thúy Hồng.

Các cháu không có gì kỳ thị với nhau trong việc phụng thờ ông bà, gia đình ông Minh Chất, tuy theo đạo Kitô nhưng thờ Tây Phương Tam Thánh (đức Phật Di Đà, Bồ tát Quan Âm, Thế Chí Bồ tát), thờ Phật Bà Quan Âm lộ thiên. Gia đình Sư có anh Lê Bửu Hảo là phật tử, nhưng khi đi nước ngoài theo Ki-tô giáo, đến khi qua đời có hai đạo Phật và Chúa đến cầu nguyện và tống táng đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Tại Việt Nam hiện nay người Ki-tô có cải biên về việc cúng kính, phụng thờ ông bà, cho phép Ki-tô hữu lập gia đình với người khác đạo. Sư chấp nhận cho phật tử lập gia đình với gia đình Kitô, không có ý kiến để giữ hạnh phúc cho vợ chồng và hai họ. Sư thiết nghĩ đấy là tính từ bi của đạo Phật và lòng bác ái của đạo Chúa phải được thể hiện trong tín đồ và trong loài người trên hành tinh này mới đúng nghĩa các vị giáo chủ này giáng thế cứu đời.

Các bạn phật tử phụng thờ như Sư hướng dẫn trên thì khi các bạn cúng kiến giỗ chạp ông bà chắc chắn gia đình bạn phải nhất trí với bạn thôi! Tại Bình Dương, thành phố Thủ Dầu Một có phật tử Tâm Huệ, một nhân sĩ Phật giáo, lập gia đình với người khác đạo cũng là nhân sĩ Ki-tô hữu, gia đình luôn hạnh phúc và không có việc kỳ thị từng ý kiến trong việc cúng lễ. Đôi khi phật tử Tâm Huệ còn thỉnh chư Tăng về tại gia cúng dường trai Tăng không gặp trở ngại, vì nữ phật tử biết tôn thờ Chúa như thờ Phật.

Trăm năm trong cõi người ta
Suy đi nghĩ lại cũng là đỉnh chung
Hành tinh vận chuyển vô cùng
Phật Chúa là bậc tôn sùng như nhau

Đức Phật qua cái nhìn của doanh nhân

December 15, 2017

Học giả người Ấn Độ Radhakrishnan đã nói: “Nếu Phật giáo hấp dẫn đối với những đầu óc tân tiến, đó là vì Phật giáo có tinh thần khoa học, thực nghiệm, chứ không phải là dựa trên bất cứ giáo điều nào”.


Thật vậy, hơn 25 thế kỷ đi qua, nhân loại đã chứng kiến bước phát triển không ngừng của Phật giáo. Sự lớn mạnh được thể hiện không chỉ đơn thuần với số lượng Phật tử ngày càng đông, các ngôi chùa được xây dựng ngày càng nhiều hay các ngày lễ của Phật giáo được đông đảo nhân dân thế giới biết đến và tổ chức ngày một trang hoàng, quy mô… mà phát triển ở chỗ Phật giáo ngày càng thu hút sự khám phá hiểu biết của nhiều khoa học gia, triết gia, văn nhạc sỹ… các tầng lớp trí thức, những danh nhân để rồi sau khi biết đến Phật đã muôn lời ngợi ca, tán thán về nhân cách toàn thiện, nguồn tuệ giác tuyệt vời mà Ngài để lại cho nhân loại.

Bài viết xin giới thiệu về đức Phật qua cái nhìn của các danh nhân để chúng ta thấy được một cách trọn vẹn nhất, sống động nhất hình ảnh vĩ đại cũng như tầm ảnh hưởng của Ngài đối với nhân loại.

1. Nhân cách vĩ đại của Đức Phật

Giáo sư Max Miller, Học giả người Đức đã không giấu nổi niềm cảm phục bản lĩnh, đức hạnh và con người của đức Phật khi bày tỏ: “Đức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến”.

Cũng ngợi ca về nhân cách vĩ đại của đức Phật nhưng nhà thơ Ấn Độ trứ danh Robindranath Tagore lại nhìn một khía cạnh khác, đó là ông xoáy sâu vào tính nhân bản, yêu thương con người: “con người là tối thượng” trong toàn bộ tư tưởng của Phật: “Đức Phật đã thánh hóa con người, giải phóng con người ra khỏi tất cả sự nô lệ của chính mình và thần linh”. Cũng chính đại thi hào này từng nhấn mạnh: “Lịch sử Đức Phật Thích Ca là lịch sử một con người, nhờ chính công phu tu tập của bản thân, đã trở thành một con người hoàn thiện, một bậc Thánh giữa thế gian”.

Trong khi đó, nói về Phật, cựu thủ tướng Ấn Độ, J. Nehru lại có một so sánh rất giản dị mà đầy hàm ý: “Sự khác biệt giữa Đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí”.

Cũng không ngoài mục đích ngợi ca đức Phật, trong tác phẩm “Tinh hoa của Phật giáo”, Giáo sư Lakshimi Narasu đã nói đức Phật che chở, bảo vệ và dẫn đường cho chúng sanh như tình cảm thiêng liêng cao quý mà người cha dành cho các con của mình: “Đức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn”.

Hay như chính giám mục Anh quốc Milman, một người trong Thiên Chúa giáo đã phải thổ lộ suy nghĩ mến phục Đức Phật của bản thân mình như sau: “Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Đường lối, là Chân lý và là Lẽ sống”.

Nhưng có lẽ nói về nhân cách vĩ đại của đức Phật thì Tiến sĩ S.Radha Krishnan, một nhà lãnh đạo của Ấn Độ, đồng thời là một triết gia, đã phát biểu một cách tổng quát và sâu sắc nhất: “Nơi Đức Phật Cồ Đàm, ta nhận thấy một mẫu người tinh hoa toàn thiện của phương Đông. Ảnh hưởng của Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hi hữu, nó tỏa rộng và sâu sắc hơn ảnh hưởng của bất cứ vị giáo chủ nào trong lịch sử. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh từ tinh hoa các bậc hiền trí, bởi vì xét về phương diện lý trí thuần tuý, chuẩn mực đạo đức và tuệ giác tâm linh, thì chắc chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao thượng nhất trong lịch sử”.

2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật qua giáo pháp của Ngài

Ẩn sau nhân cách vĩ đại ấy, người ta nhận thấy suối nguồn vô tận của trí tuệ siêu việt, tuyệt diệu trong con người Đức Phật thông qua kho tàng tri thức mà Ngài để lại cho đời.

Về điều này, trước hết phải kể đến nhà khoa học lỗi lạc Albert Einstein. Dưới con mắt của một người nghiên cứu về khoa học tự nhiên, ông đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động. Với ông, Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới toàn diện, một lối sống thực tiễn và khoa học.

Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông đã khẳng định về Đạo Phật như sau: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”

Sau những nghiên cứu của mình, một lần khác nhà bác học này tiếp tục phát biểu về tầm bao quát của Phật giáo đối với khoa học: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”.

Người phát hiện ra Thuyết Tương đối đã tiếp tục nhận định về sự tuyệt đối, siêu vượt thời gian của Phật giáo: “Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo với những tư tưởng khoa học, khích lệ con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong bản thân con người và môi trường sống của con người. Phật giáo là siêu vượt thời gian”. Có thể nói những đánh giá, phân tích trên của nhà bác học Albert đã một lần nữa chứng tỏ và khẳng định tính khoa học, tính hiện đại cũng như giá trị vĩnh cửu của giáo lý Phật giáo suốt chiều dài lịch sử.

Cũng bàn về trí tuệ của Đức Phật, Bertrand Russell, nhà triết học và toán học nổi tiếng thế kỷ 20, trong cuốn “Lịch sử triết học Tây Phương” đã đặt vị trí của Phật giáo lên trên hết khi viết: “Phật giáo là một tổ hợp của triết lí suy cứu và triết lí khoa học. Phật giáo ủng hộ phương pháp khoa học và y cứ theo phương pháp này để đạt tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lí. Phật giáo còn đi xa hơn Khoa học vì Khoa học bị hạn cuộc bởi những dụng cụ Vật lí”.

Riêng giáo sư Rhys Dadis thì thể hiện lòng tôn kính với Phật qua cách diễn đạt dí dỏm về tinh thần từ bi, bình đẳng, bác ái trong lời dạy của Ngài: “Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ”.

Đứng trên bình diện học giả, chính ông đã tự tin vận dụng con đường Bát Chánh đạo của đức Phật để có cuộc sống thật sự hạnh phúc và ý nghĩa: “Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó”.

3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại

Chính bởi những cống hiến lớn lao khổng thể phủ nhận của Đức Phật cho nền hòa bình của nhân loại mà Tổng thống J. Nehru đã nói: “Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật”.

Trong một dịp khác, vị tổng thống này đã tiếp tục khẳng định tư tưởng của Đức Phật như một thông điệp sáng ngời cho nền hòa bình và kêu gọi nhân dân thế giới đến với ánh sáng của Ngài nhất là trong thời đại ngày nay:

Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. 

Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). Qua đây có thể thấy những lời dạy của Đức Phật đã và đang trở thành kim chỉ nam cho mối đoàn kết nhân dân trong phạm vi quốc gia cũng như mối đoàn kết dân tộc trong phạm vi quốc tế.

Những cống hiến của đức Phật cho nhân loại lại một lần nữa được vinh danh ngay cả đối với người thuộc các đạo khác trên thế giới. Đó là một học giả người Hồi Giáo đã không ngần ngại nói về trí tuệ tuyệt vời cũng tầm ảnh hưởng của giáo pháp đạo Phật đối với các tôn giáo, tư tưởng khác: “Đức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài”.

Đến đây có thể nói, Đức Phật qua cái nhìn của danh nhân không còn là người Thầy của riêng người Phật tử nữa mà đã trở thành Người Cha của nhân loại khắp địa cầu. Những chân lý mà Ngài để lại cho chúng ta chính là khoa học, là tri thức, là cái mà con người kiếm tìm bấy nay. Sau cùng, xin một lần nữa ngợi ca đức Từ Phụ qua đôi vần trong thi phẩm nổi tiếng viết về Ngài “Ánh sáng Á châu” của tác giả Sir Edwin Arnold:
 
“Ðây hoa nở trên cây nhân loại

Ðã bừng nở qua nhiều vạn kỷ

Làm thế giới chan hòa hương thơm trí tuệ

Và mật ngọt tình thương”

Cách ngồi thiền và quán niệm hơi thở

December 15, 2017

Cách ngồi thiền và quán niệm hơi thở - Toàn Không

I). Chuẩn bị:

1- Về thân: Đối với người mới tập thiền, không nên ngồi thiền trong lúc qúa no đói, có bệnh, thiếu ngủ, khát nước, quần áo qúa chật, qúa nóng lạnh, qúa ồn ào, không có tọa cụ; khi ngồi thiền, thân thể, quần áo phải sạch sẽ.



2- Về tinh thần: Để dễ tập trung vào việc thiền, người hành thiền phải dứt các lo lắng ràng buộc với công việc, chấm dứt các tham muốn, không còn các sự lo lắng, giận hờn, ghen tị v.v… nghĩa là muốn hành thiền mau tiến bộ phải tránh tham sân, phải bớt tiếp xúc với sáu trần là sắc đẹp, thanh hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu, pháp tưởng nhớ. Cũng cần phải tin pháp môn hành trì, tin thiện tri thức, tin chính mình có đủ khả năng, tất cả không một chút nghi ngờ về các điều nêu trên, gọi là có chính tín.

3- Vật dụng: Tọa cụ để ngồi, có thể dùng môt cái chăn mền mỏng gấp làm tư, một cái gối bằng bông dầy mỏng tùy ý. Nếu nền ngồi có thảm, chỉ cần một cái gối là đủ.
 
II). Cách ngồi:

Chăn mền: gấp làm tư trải xuống, để gối trên mền ngay ngắn, ngồi thế nào để chân sẽ không đụng gối.

1- Ngồi bán kết già: Để chân trái trên đùi phải hay chân phải trên đùi trái, bàn chân nằm ngửa bằng với đùi (nếu không thể để trên đùi, để trên bắp chân). Chân kia nằm ngửa phiá dưới, bằng đùi kia (hay giữa đùi và bắp chân).

2- Ngồi toàn kết già: Cũng giống như ngồi bán kết già nêu trên, nhưng phải kéo bàn chân kia lên nằm ngửa trên đùi và bằng đùi kia(cách ngồi này rất khó, chỉ dễ đối với người đã ngồi quen rồi hoặc còn trẻ tuổi).

Người mới tập ngồi thường hay bị tê chân, qua thời gian hết tê thì đau mỏi, về sau khi hết đau mỏi rồi, ngồi bao lâu cũng được; nới lỏng dây bụng, cổ áo, cho rộng rãi thoải mái, sửa cho ngay ngắn.

- Về tay: Tay trái nằm ngửa để trên chân ở giữa hai đùi, tay phải cũng nằm ngửa để trên tay trái (hay ngược lại), các ngón chồng lên nhau, trừ ngón cái vừa đụng nhau, rồi hai bàn tay kéo sát vào người vừa phải thoải mái, không cho xê dịch.
- Về lưng cổ: Giữ cho xương sống và cổ ngay ngắn, không cong, không nghiêng vẹo.
- Về đầu mặt: Đầu hơi cúi một chút như thế nào để tầm mắt nhìn thẳng chạm đất xa khoảng 1 mét 5 (khoảng 5 feet) cách chỗ ngồi.
 
III). Trước khi thiền:

1- Cách thở: Tiếp theo dùng miệng thở hơi ra dài, đừng gấp cũng không nên mạnh qúa mà từ từ nhẹ nhẹ, rồi dùng mũi hít vào cũng từ từ như khi thở ra. Khi thở ra hít vào tưởng tượng như các mạch máu trong người đều theo hơi thở mà lưu thông cùng khắp; cũng có thể tưởng tưởng khi thở ra tất cả những buồn phiền lo lắng và khí độc trong người đều ra hết, và khi hít vào những khí trong lành đều lưu thôngcùng khắp cơ thể. Thở ra hít vào 3 lần hoặc nhiều hơn tùy ý. Khi thở xong, để hơi thở tự nhiên, nhẹ nhàng, không nên cố thở, không nên kìm giữ hơi thở, không nên làm cho bụng phồng xẹp phải theo ý mình.

2- Miệng lưỡi: Xong ngậm miệng lại, hai môi khép kín vừa phải, hàm dưới trong, hàm trên ngoài, răng để khít nhau, lưỡi để sát lên trần của hàm trên.

3- Mắt: Mắt nhắm vừa đủ để che ánh sáng bên ngoài đối với ban ngày hoặc có đèn sáng, không cần phải nhắm nghiền, trong khi thiền nhắm mắt dễ bị hôn trầm (mờ mịt buồn ngủ), mở mắt to dễ bị tán loạn. Nếu thiền ban đêm hay trong phòng tối nên mở mắt một nửa có lợi tránh được buồn ngủ.

Từ đây: giữ hơi thở điều hòa, không gấp không chậm, không gây thành tiếng, thân ngồi ngay thẳng vững vàng, không cử động xê dịch, và bắt đầu hành thiền.
 
IV). Thực hành thiền:

Trên đây là chỉ chung cách ngồi, tùy theo pháp môn tu mà mỗi người chọn để thực hành thiền. Mỗi pháp môn đều có chỉ dẫn cách thực hành thiền riêng của nó như tu Chỉ: Là buộc tâm không cho suy nghĩ, không cho tư tưởng khởi lên, gọi là dứt vọng tâm dứt tán loạn, phải tỉnh táo sáng suốt và tịch tịnhvắng lặng. Tu Quán: Là quán sát các tướng nhân duyên sinh diệt, như quán “Thân bất tịnh” để đối trịtham dục, quán “Sổ tức” là đếm hơi thở ra vào, đối trị loạn động, ngăn ngừa suy nghĩ nhớ tưởng đủ thứ; tu “Tứ Niệm Xứ” quán sát “thân thọ tâm pháp”, tu “Tứ Thiền” v.v…. Riêng Thiền Tông, tuy không chủ trương ngồi thiền, vì có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh đi đứng nằm ngồi đều dụng công tham thiềnđược cả, nhưng không phải là bác bỏ hẳn việc ngồi thiền, vì những người mới tu, ngồi dễ dàng hơn cho việc thực hành tham thiền của mình.
 
1). Cách trị hôn trầm (chìm vào mê tối):

Nếu trong khi ngồi thiền tâm biết mờ mịt, nửa thức nửa ngủ, đầu gục xuống nhiều, có khi chảy nước bọt rãi từ miệng ra, đây là hôn trầm và rơi vào Vô Ký (không tỉnh), phải nhấc đầu lên, mắt mở to ra một chút, để tâm nơi đầu mũi. Nếu vẫn còn xẩy ra như thế, phải quán “Sổ tức” để trị hôn trầm, đối với người tham thiền phải biết mình tham và nghe rõ câu tham tuy không mở miệng.

Còn có nhiều cách trị buồn ngủ khác mà đức Phật đã dạy, sau đây chúng ta lược trích một đoạn Kinh Trưởng Lão Buồn Ngủ (thùy miên) trong Trung A Hàm quyển 2 từ trang 391: Một thời Phật du hóa ở vườn Lộc Dã xứ Bà Kỳ Sấu, khi đó Tôn giả Trưởng Lão Mục Kiền Liên lại ở làng Thiện tri thức nước Ma Kiệt. Một hôm đức Phật ở trong định thấy Tôn giả Mục Kiền Liên đang buồn ngủ, Ngài liền dùng Như kỳ tượng định, chỉ trong chớp mắt Ngài tới ngay trước mặt Tôn giả Mục Kiền Liên và nói:

- Mục Kiền Liên, Thầy đang mắc phải chứng buồn ngủ.
 Tôn giả Mục Kiền Liên bừng tỉnh, vội trả lời:
- Thưa Thế Tôn, quả thật con đang mắc chứng buồn ngủ.
- Nếu buồn ngủ, thầy biết là tướng nào của mình (sở tướng) gây buồn ngủ, thầy chớ tu tập theo tướng ấy nữa.

Hãy theo giáo pháp khác đã được nghe được biết tùy theo đó mà thụ trì, suy niệm suy tư.

Nếu chứng buồn ngủ vẫn chưa hết, hãy dùng hai tay xoa hai bên mép tai, hoặc rửa mặt, hoặc đi tắm. Nếu vẫn chưa hết buồn ngủ, hãy đi ra ngoài nhìn trăng sao, đi kinh hành, giữ chính niệm, giữ gìn các căn, trụ tâm bên trong.

Sau khi kinh hành, ngồi thiền trở lại, nếu buồn ngủ vẫn chưa hết, hãy nằm nghiêng bên phải, hai chân chồng lên nhau; khởi nghĩ tưởng về ánh sáng (quang minh tưởng), lập an trú chính niệm, khởi ý niệmluôn luôn muốn thức dậy; đừng ham lạc thú ngủ nghỉ, tài lợi, danh dự …, khi đức Phật giảng dạy cho Tôn giả Mục Kiền Liên xong, Ngài biến khỏi nơi ấy trở về vườn Lộc Dã.

2). Cách trị tán loạn:

Nếu ngồi thiền để lưng cong ễnh bụng ra dễ sinh mệt mỏi, tán loạn (suy nghĩ tưởng nhớ đủ thứ chuyện), sinh bệnh, phải sửa lại lưng cho ngay thoải mái, để tâm nơi đầu mũi; nếu vẫn còn xẩy ra nhiều lần như thế, phải quán Sổ tức để trị tán loạn. Đối với người tham thiền phải quay trở lại với câu thoại đầutham cho rõ ràng.

Nên nhớ bài kệ của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô ký lặng lặng sai,
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.


3). Thời gian Thiền, tham:

Thời gian thiền dài ngắn tùy theo mỗi hành giả, từ nửa giờ cho tới một giờ hay hơn nữa, tùy sức mỗi người; thông thường khi mới tập thiền, ngồi trong thời gian ngắn, sau dần dần tăng thời gian dài hơn lên.
 
V). Xả thiền:

Khi xuất thiền trước nhất phóng tâm theo cảnh khác, kế há miệng thở ra hơi dài từ từ, dùng mũi hít vàocũng từ từ, tưởng tượng khắp các mạch máu, thớ thịt đều theo hơi thở mà lưu thông cùng khắp. Kế là động nhẹ thân, hai vai, các bắp thịt hai tay, lưng, cổ, rồi động đến bắp thịt hai chân. Sau nữa, hai tay xoa vào nhau nhiều lần, áp đặt hai bàn tay, các ngón tay trên hai mắt khoảng năm ba giây, xong xoa vuốt mặt đầu cổ, làm ba lần, xong dùng hai bàn tay bóp nhẹ hai bàn chân, bắp thịt chân và đùi.

Việc xả thiền trên đây phải làm từ từ không vội gấp, nếu làm không đúng, có thể bị chứng nhức đầu, các khớp xương cứng khó cử động, các bắp thịt chân bị chuột rút, tê cứng v.v… và nhất là về sau mỗi khi tọa thiền cảm thấy khó chịu không yên.
 
VI). Quán hơi thở: Có 3 cách quán hơi thở:

1)- Quán sổ tức: Là quán đếm hơi thở. Quán hơi thở là căn bản để trị hôn trầm tán loạn. Tất cả các pháp môn, trong khi thiền đều có thể xảy ra hôn trầm và tán loạn. Nên chúng tôi viểt cách quán này vào đây, hy vọng nó không thừa, để giúp cho người mới tập thiền có bước đầu tiên vững chắc. Quán Sổ Tức là đếm hơi thở, có ba cách đếm:

1- Đếm hơi lẻ: Là thở hơi vào đếm một, thở hơi ra đếm hai, thở hơi vào đếm ba, thở hơi ra đếm bốn . . . cứ thế thở và đếm cho đến mười; rồi lại bắt đầu đếm từ một đến mười, cứ thế đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ý.

2- Đếm hơi chẵn: Là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ như thế thở và đếm tuần tự tới mười; khi đếm đến mười rồi, tiếp tục đếm lại từ một cho đến mười, như thế đếm cho tới khi xả quán.

3- Đếm nghịch: Là dùng một trong hai cách đếm trên, nhưng là đếm ngược từ mười đến một.
 Nói thì dễ nhưng làm không dễ, thường hay mắc các khuyết điểm:
- Đếm nhảy, như mới đếm đến bốn liền nhảy lên sáu, mới đếm đến sáu liền nhảy lên tám v.v...
- Đếm thừa, như đã đếm đến sáu lại đếm năm, đã đếm đến bảy lại đếm bảy nữa v.v...
- Đếm quên: Đang đếm bỗng quên không nhớ là đếm đến mấy rồi!
 Nếu đếm lẫn lộn như thế, phải đếm lại.

Trường hợp Tôn giả Chu Lợi Bàn Đặc Ca đần độn tụng một bài kệ bốn câu trong ba tháng mà không thuộc, lúc quên đầu, lúc sai đuôi; Phật thấy thế ban cho cách “đếm hơi thở vào ra”, Tôn giả bèn cứ thế mà thực hành không hề ngưng nghỉ, chỉ chú tâm đếm theo hơi thở, ngoài hơi thở ra không suy nghĩtưởng nhớ sự vật gì khác, cho đến vi tế tột cùng, Tôn giả thấy hết thảy đều sinh (sinh ra), trụ (có thấy đó), dị (biến hoại), diệt (mất đi) từng mỗi sát na, và đạt đến tâm định tĩnh rỗng rang tự tại vô ngại; Tôn giả Chu Lợi Bàn Đặc Ca đã được Phật ấn chứng là bậc A La Hán (Bậc Thánh).

2). Quán Tùy Tức: Tôn giả Tôn Đà La Nan Đà mỗi khi ngồi thiền tâm thường loạn động, đức Phật thấy thế dạy quán “tướng trắng trên chót mũi”, chuyên chú tập trung tất cả vào đó. Tôn giả quán sát kỹ trên đầu mũi như thế, sau 21 ngày Tôn giả thấy hơi trong mũi thở ra vào như khói, thân tâm thế giới trong ngoài rỗng suốt trong sạch như ngọc lưu ly. Rồi dần dần tướng khói tiêu mất, mà hơi thở lại biến thànhsắc trắng, tâm được khai ngộ, các lậu hoặc phiền não khai trừ sạch, hơi thở ra vào biến thành quang minh soi khắp cùng mười phương thế giới; Tôn giả đã được đức Phật ấn chứng là bậc A La Hán, và thọ ký cho Tôn giả sẽ đắc qủa Bồ đề (thành Phật) trong tương lai.

3). Quán An Ba Ban Na: Tôn giả La Vân là con ruột của đức Phật thường lo buồn, hay suy nghĩ tưởng nhớ đủ thứ chuyện được đức Phật chỉ cho cách tu “An Ba Ban Na” một cách đầy đủ. Sau khi ghi nhậnlời dạy một cách chu đáo, Tôn giả La Vân liền đến gốc cây ngồi kết già, chính thân chính ý, không nghĩ tưởng chuyện khác, buộc tâm ở chót đầu mũi. Tôn giả thở vào dài biết thở vào dài, thở ra dài biết thở radài; thở vào ngắn biết thở vào ngắn, thở ra ngắn biết thở ra ngắn; thở vào mát cũng biết thở vào mát, thở ra mát cũng biết thở ra mát; thở vào ấm cũng biết thở vào ấm, thở ra ấm cũng biết thở ra ấm. Quán khắp thân thể: hơi thở vào ra thảy đều biết cả; lúc có thở biết có thở, lúc không thở biết không thở; hơi thở từ ngoài vào biết hơi thở từ ngoài vào, hơi thở từ trong ra biết hơi thở từ trong ra.

Tôn giả La Vân tư duy như thế, dục tâm liền được giải thoát, có giác có quán, hoan hỉ an lạc đạt Sơ thiền. Có giác có quán hỉ, chuyên chú nhất tâm, nhập tam muội không giác không quán, hỉ lạc đạt Nhị thiền; không còn niệm hỉ lạc, tự giữ giác tri thân lạc, xả niệm hỉ đạt Tam thiền; khổ vui đã diệt hết sầu lo, không khổ không vui, xả niệm thanh tịnh đạt Tứ thiền. Do tam muội này, tâm thanh tịnh sáng suốt, biết từ đâu sinh ra, biết vô số kiếp về trước của mình, biết chỗ khởi tâm suy nghĩ của chúng sanh, biết nhân qủa lành dữ của hết thảy chúng sanh. Do tam muội này, thấy biết như thật về khổ, nguyên nhân gây ra khổ, cách diệt khổ, và con đường dẫn đến Đạo. Do tam muội này, tâm dục lậu đã sạch, liền được giải thoát, sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, biết rõ không còn tái sinh, đã ra ngoài vòng luân hồi sinh tử của sáu cõi.

Lúc ấy, đức Phật bảo các Tỳ Kheo: “Tỳ Kheo La Vân là người trì cấm giới thứ nhất, cũng là người thứ nhất sạch hết hữu lậu trong các vị đắc A La Hán”.

Tam bảo lực & tâm thành của Phật tử trong lễ Vu lan

December 15, 2017

Đến mùa Vu lan Báo hiếu của Phật tử xuất gia và tại gia, tôi nhắc một số việc rất quan trọng trong đời sống tu hành của chúng ta.



Trước đây, một số người phạm sai lầm khi tu pháp môn mình ưa thích thì thường chê pháp môn khác. Nếu tu theo Phật giáo Nguyên thủy thì chê pháp tu Đại thừa, đó chính là bài học đắt giá mà Phật giáo Ấn Độ đã trải qua.

Thật vậy, sau khi Phật Niết-bàn, chư Tăng thuộc phái bảo thủ cố chấp lời dạy nào của Phật theo kinh điển truyền thừa, mà người tu pháp khác, thì họ không chấp nhận. Ban đầu, tìm cách nói xấu, gây chia rẽ trong Phật giáo, dẫn đến Phật giáo chống phá nhau, đó là thời kỳ Phật giáo phát triển.

Trong Phật giáo lúc bấy giờ có sự phân chia đầu tiên thành hai phái chính là phái bảo thủ và phái cấp tiến. Từ đó, rơi vào tình trạng bè phái. Trong khi luật Phật đã cấm việc bè phái, vì Phật giáo thống nhất một khối, lấy lý tưởng giải thoát làm lẽ sống. Vì vậy, chúng ta phải chia sẻ giáo pháp cho thích hợp với xã hội mà chúng ta đang sống, thích hợp với nhu cầu quần chúng, thì Phật giáo mới tồn tại được. Tinh thần Phật giáo phát triển, hay cấp tiến chủ trương như vậy.

Phái bảo thủ thường chê kinh điển Đại thừa, chê người theo Đại thừa không thể hiện đúng lời Phật dạy. Nhưng thực sự, Phật giáo Đại thừa căn cứ trên tinh thần Phật dạy rằng chúng sanh nghĩ gì, muốn gì, làm được gì, thì chúng ta nên đáp ứng nguyện vọng chính đáng của họ. Chúng ta cho họ những gì họ cần, nếu cho cái chúng ta có mà họ không cần, trở thành phản tác dụng. Phật tử tại gia cần gì, giới xuất gia đáp ứng được nhu cầu đó, nếu không, họ sẽ bỏ đạo Phật.

Người theo phái bảo thủ chê trách việc làm của người tu phái cấp tiến là không đúng, không được, nhưng thực tế cho thấy việc không được lại được. Thật vậy, người theo tinh thần cấp tiến Đại thừa nhận thấy Đức Phật đã quy tụ tất cả những người có tâm xuất gia, có tâm cầu giải thoát, có tâm muốn cứu độ chúng sanh.

Bằng chứng cụ thể khi Phật thành đạo, đầu tiên Ngài giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như là những nhà tu khổ hạnh, nhưng họ có nhu cầu giải thoát thực sự, là nhu cầu chính đáng, nhưng họ không tìm được. Đức Phật mới nói Tứ Thánh đế cho họ mà đối tượng là Sa-môn cầu giải thoát và Ngài sử dụng pháp đơn giản, nhưng họ đã đắc quả vị La-hán một cách nhanh chóng. Đó là quan điểm nhìn cuộc đời đúng đắn mới thấy điều nên giữ, hay nên bỏ.

Những gì nên bỏ mà cố giữ sẽ làm mọi người khổ. Vì vậy, Phật thuyết nguyên nhân khổ và việc mà các người tu cần làm là tu 37 Trợ đạo phẩm để thoát khổ, được Niết-bàn. Hàng đệ tử Phật dù tu pháp môn nào cũng phải tuân thủ giáo lý căn bản này, không được rời giải thoát. Đây là mẫu số chung, nhưng giáo hóa chúng sanh phải dùng pháp phương tiện.

Thật vậy, khi Đức Phật thành đạo ở cội bồ-đề, Ngài cũng nghĩ không thể chia sẻ pháp mà Ngài chứng ngộ là Tam minh, Lục thông, Thập bát bất cộng…, vì mọi người chưa thể làm những việc này, nên Phật không nói. Phật bảo những gì mình biết thì mình làm, còn người chưa làm được thì không nên dạy họ những điều đó. Ý này được kinh Nguyên thủy đưa ra thí dụ người bị mũi tên độc phải lo nhổ mũi tên độc ra và cứu chữa vết thương cho lành, mới nói đến việc khác. Lúc đó mà nói chân lý thì họ chưa kịp hiểu đã mất mạng.

Ngày nay, có người bài bác lễ Vu lan vào ngày rằm tháng 7 mà Phật giáo Đại thừa thường tổ chức. Họ nói rằng lễ này không có trong Phật giáo. Đó là sai lầm lớn của một số người không hiểu rõ tinh thần Phật dạy có thể làm Phật giáo bị suy yếu cho đến bị tiêu diệt.

Thử nghĩ lễ Vu lan có hay không có trong Phật giáo. Tôi nghiên cứu kinh Nguyên thủy trước và học kinh Đại thừa sau, nhận thấy có sự nhất quán từ pháp Phật dạy năm anh em Kiều Trần Như và đi suốt nữa, xem Phật dạy Tỳ-kheo làm gì và những người đang sống làm gì. Bấy giờ, tôi thấy trong kinh Nguyên thủy, Phật đã nói hiếu hạnh và Ngài cũng đã thực hành hiếu hạnh. Nhưng hiếu hạnh của Phật khác với hiếu hạnh của Bà-la-môn giáo, khác với Nho giáo.

Đạo Bà-la-môn chủ trương cúng tế, Phật không đồng tình việc này, thậm chí họ giết bò, heo, dê để cúng tế thần linh, cúng ông bà tổ tiên để cầu mong được phước. Tục lệ này có từ thời Phật tại thế cho đến ngày nay vẫn còn. Gần nhất là ở vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sanh ở Nepal. Dù Ấn Độ đã cấm giết súc vật để cúng tế, nhưng người dân Ấn vẫn theo tục lệ cúng ông bà bằng cách chém giết súc vật. Ở Việt Nam có lễ đâm trâu rất dã man.

Phật dạy rằng muốn sanh lên cõi Trời, phải có thiện căn công đức. Làm ác nghiệp phải đọa. Giết súc vật cúng ông bà, chỉ thấy hàng xóm ăn, ông bà không ăn nhưng phải gánh tội sát hại này. Gia đình tôi đã phạm tội này khi ông nội tôi qua đời, bố tôi theo đạo Phật được Hòa thượng dạy cấm sát sanh, phải cúng chay, vì người chết không ăn như người sống. Tôi nhớ đám tang này kéo dài một tuần lễ. Khi còn một ngày đưa đi chôn, em của ông nội tôi là bà Bảy về thăm. Bà bảo giết bò để cúng, vì anh của bà bị bỏ đói, bắt ăn toàn rau.

Nói xong, bà lấy miếng thịt to để trước quan tài, khấn vong hồn anh linh thiêng thì nhận phẩm vật của em. Bà nói vừa xong, tự nhiên quan tài xì khói có mùi hôi khó chịu, dưới quan tài phụt nước ra. Bố tôi vô lạy, xin ông nội tha tội cho bà thì nước từ quan tài hết xì ra. Đó là sự thật xảy ra trong gia đình tôi, từ đó, gia đình tôi cúng chay cho ông bà. Còn trước kia, cứ mùng 3 Tết là cúng đủ thứ, cắt cổ gà rồi luộc, đem cúng. Nhưng hiện tượng này xảy ra thì sợ, không cúng súc vật nữa.

Phật dạy báo hiếu cha mẹ lúc cha mẹ còn sanh tiền, thể hiện lòng hiếu kính bằng cách không làm cha mẹ buồn phiền. Phật tử phải hiểu điều này. Nhiều khi chúng ta cung phụng đầy đủ, nhưng không khéo làm cho cha mẹ buồn phiền, vì cách đối xử, cách cung phụng của chúng ta khiến cha mẹ buồn thì phước không sanh, mà tội sanh. Người ta nói ăn cơm chan nước mắt là ý này, vì một lời nói không khéo làm người già dễ buồn, dễ giận.

Tôi nhớ có lần ông thân sinh tôi về thăm người chị của tôi có chồng ở xa. Tới nhà, bà chị này lo nấu cơm cho ông cụ ăn, nhưng chị bận công việc, nên đứa con đem nồi cơm để trên bàn, không đem chén đũa, không đem thức ăn. Ông cụ tự bốc cơm ăn. Bà chị hỏi con sao không đem thức ăn cho ông ngoại. Ông cụ nói cha ăn rồi. Như vậy là bà chị đã làm buồn phiền cha. Chị xuống thăm tôi, tôi nói chị phạm tội bất hiếu, phải lạy ông xin tha tội. Vì vô tình, hay cố ý làm cha mẹ buồn phiền, hay làm buồn phiền người quá vãng là tội bất hiếu nặng.

Đức Phật bảo chúng ta dạy Phật pháp cho ông bà, tổ tiên là quan trọng nhất, vì chỉ cho cha mẹ ăn đầy đủ, nhưng họ chết rồi, làm sao ăn. Đem Phật pháp hướng dẫn cha mẹ, ông bà chúng ta tin và thực hành Phật pháp để họ được giải thoát là trả hiếu lớn nhất. Điển hình như khi Phật về lại hoàng cung, Ngài thuyết pháp, giáo hóa vua Tịnh Phạn, giúp ông chứng được quả Tu-đà-hoàn, có huệ nhãn thấy được tội lỗi trước kia của ông, nên không dám khởi tâm ham muốn việc không tốt, mới được giải thoát.

Vua Tịnh Phạn thấy Phật được ông vua các nước lân cận kính trọng và ông cũng thấy các vị Thánh Tăng theo Phật được hàng Bà-la-môn kính nể, khiến ông khởi ý niệm Thái tử Sĩ Đạt Ta là người cao quý độc nhất trên thế gian thì từ đó, vua Tịnh Phạn mới tỏ lòng kính trọng Phật thực sự.

Vua Tịnh Phạn đã nói đơn giản rằng nếu thái tử nối ngôi vua thì cũng giống như bao người khác, nhưng vì có trí tuệ, bỏ ngôi vua đi tu mới trở thành Phật là vị tối thượng trên tất cả mọi người. Nhận thức được tư cách thánh thiện bậc nhất của Phật, vua mới phát tâm cung kính và nói: “Bạch Đức Thế Tôn…”. Vì vậy, ngày nay chúng ta có truyền thống con đi tu, cha mẹ cũng tôn trọng.

Vua nói với Phật rằng lần đầu tiên ông đảnh lễ Ngài là khi Tiên A Tư Đà đảnh lễ Ngài, lúc đó thái tử còn nằm nôi. Vị Tiên nhân này sống đến 120 tuổi, nhưng thấy thái tử thì sụp lạy và khóc, đó là sự thật lịch sử. Không biết có sức thu hút nào khiến vua Tịnh Phạn cũng lạy theo, vì vua kính trọng lão Tiên này nhất, nên Tiên làm gì thì vua dễ làm theo. Và lần thứ hai, vua lạy thái tử, vì thấy Ngài ngồi ở gốc cây mà mặt trời không ngả bóng về Tây, tức trời vẫn sáng như ban ngày. Đến khi thái tử xả định thì chiều sụp tối.

Vì vậy, đối với chúng ta, cảm hóa được tổ tiên, ông bà, cha mẹ là điều quan trọng nhất. Đôi khi chúng ta báo hiếu lại thành bất hiếu. Tôi luôn cân nhắc ý này trong cuộc đời hành đạo của mình. Chúng ta đi chùa lễ Phật, ông bà cha mẹ cũng đi theo ta và cả những người thù nghịch cũng theo ta. Nói cách khác, chúng ta có hai mặt tốt xấu, thù nghịch và thương yêu.

Ai cũng có người ghét, nhưng không ai không có người thương mình. Không có người thương là vào địa ngục. Có người ghét, người thương, nhưng khác nhau ở nhiều người thương, hay nhiều người ghét. Và trong thế giới vô hình cũng có người thương, người ghét chờ mình sơ hở để chống phá, gọi là oan gia.

Thí dụ Ngộ Đạt đời trước làm quan đã giết oan Triệu Thố, nhưng sau ngài từ quan, đi tu đến 9 kiếp, nhưng ông Triệu Thố luôn theo ông Viên Án (tức Ngộ Đạt) nhiều kiếp trước đã từng giết oan ông để báo thù. Nhưng đã theo 9 kiếp mà không có cơ hội trả thù. Đến đời Đường, Ngộ Đạt làm Quốc sư được vua kính trọng đến mức làm pháp tòa toàn bằng trầm hương cho ngài ngồi thuyết pháp. Ngài mới nghĩ mình là nhất. Chỉ khởi một ý niệm như vậy liền bị tổn phước thì Triệu Thố mới có điều kiện báo thù.

Còn đối với chúng ta, như đã nói có những người thiện theo ủng hộ gọi là đất nước, ông bà, Trời Phật, tổ tiên, vì ta kế thừa họ. Ta muốn cứu nhân độ thế, nên người có tấm lòng giống ta, họ sẽ ủng hộ ta. Thực tế có người cho biết họ nằm mộng thấy báo trước việc nguy hại sẽ xảy đến, nhờ đó mà họ thoát chết. Điều này đúng.

Ngoài ra, còn có người luôn tìm sơ hở của mình để hại. Chúng ta đưa họ về chùa để hóa giải mối oan trái này. Vì vậy, ta tới chùa, họ cũng tới chùa, nếu chúng ta gặp vị chân tu mà ta kính trọng thì thế lực vô hình đi theo ta cũng kính trọng theo.

Người thực tu, đắc Thánh quả. Người phàm nói sư nào cũng giống nhau, nhưng theo tôi, các sư không giống nhau. Thật vậy, đời nhà Minh, muốn cầu siêu cho mẹ, vua tổ chức trai tăng. Người ta nghĩ vua cúng thì chắc được ăn ngon, có y bát tốt, có tiền nhiều và có cả danh dự. Nghĩ như vậy là phàm tăng, hay nghiệp chướng tăng.

Nghe vua cúng trai tăng, họ mua ca-sa, cạo tóc, vô chứng trai. Điều này rất nguy hiểm. Nếu chúng ta mời ông bà tới cúng, mà mắt của họ là thánh thần, nên họ thấy được tâm của các ông tu hành này còn muốn ăn ngon, hưởng thụ, khiến họ xem thường.

Phật dạy chứng trai, tâm phải thanh tịnh, chỉ trụ Chánh định và hồi hướng phước báo đến những người quá vãng. Người thực tu ngồi chứng trai khác với người giả tu. Người giả tu thì nhìn coi có thức ăn gì ngon.
Trong lễ trai tăng cúng dường, Phật dạy người tín thí và người tu, cả hai đều phải thanh tịnh. Không nghĩ đến thức ăn, nhưng nghĩ hồi hướng phước báo cho những hương linh là điều quan trọng. Phật dạy rằng nếu chư Tăng nghĩ đến thức ăn là đọa và hương linh không siêu thoát.

Các sư được vua nhà Minh mời đến chứng trai đi nghinh ngang. Ông vua này chơi khăm. Ông cho chôn tượng Phật ở trước cửa hoàng cung. Các sư đi qua bình thường, nghĩ hoàng cung có đường sá, bông trái đẹp quá, cứ đi mà ngắm. Nhưng có một ông sư quỳ xuống lạy. Lính canh nói lại với vua rằng có một nhà sư không vô chứng trai mà lo quỳ lạy ngoài đường. Vì ông này có thần thông thấy tượng Phật và thấy cả người chết.

Vua cúng dường các sư kia xong, cho về. Vua mới rước Hòa thượng quỳ lạy ngoài đường đến kim quan bà hoàng thái hậu. Ông tụng kinh và nói chuyện bình thường rằng ông định không tới lễ trai tăng, nhưng nghĩ bà hoàng thái hậu này có lòng thành, có tín tâm nghĩ về Phật nên ông mới tới đây. Vậy bà mãn nguyện rồi, về Trời đi. Và tối hôm đó, vua nằm mộng thấy hoàng hậu nói rằng Thánh Tăng đã đưa bà về Trời, vua nên lễ tạ Thánh Tăng.

Vị Thánh Tăng này thấy tháp chín tầng làm cho hoàng hậu, ông cứ đứng nhìn. Vua nói ngài thích thì sẽ tháo dỡ, đem tháp về chùa của ngài. Ông nói không cần cực khổ và ông lấy tháp để vô tay áo.
Pháp sư Quảng Tâm, Đài Loan kể tôi nghe câu chuyện vua nhà Minh cúng một ngàn vị Tăng để may ra có một Thánh Tăng cũng tốt.

Chúng ta cúng dường mùa Vu lan, nếu có một vị sư mà ông bà, cha mẹ chúng ta kính trọng là họ siêu thoát. Thật vậy, trong kinh Vu lan, Phật dạy rằng:

“Trước khi thọ thực đàn chay

Phải cầu chú nguyện cho người tín gia

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ

Định tâm thần quán đủ đừng quên

Cho xong ý định hành thiền

Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng…”.


Nghĩa là vị Tăng hành thiền, hướng về hương linh để siêu độ họ, như trong câu chuyện nói trên, vị Thánh Tăng thấy vong linh bà hoàng hậu, mới độ siêu thoát. Vì bà nương theo thần lực, huệ lực của vị Tăng này mới đi lên. Nếu không, người chết thấy tối đen thì dễ đi vào ba đường ác. Người tu thiền quán đắc định, thấy được con đường đi lên, hoặc thấy Phật, Bồ-tát rước họ, tức nương theo thần lực của chư Phật và pháp lực mà ra khỏi sinh tử.

Có thể khẳng định rằng lễ cúng dường trai tăng theo Phật giáo Đại thừa đã phát xuất từ kinh Nguyên thủy và thể hiện trên nhân gian cũng được nhiều người chấp nhận, mới tồn tại.

Muốn có Phật lực, Pháp lực, đòi hỏi chư Tăng thanh tịnh, nên kinh nói rằng Phật đến sông Hằng thấy lũ quỷ khát nước, nhưng vì nghiệp của quỷ khiến nó thấy nước là lửa, nên xin Phật cho nước uống. Phật chỉ vào dòng sông và nương theo thần lực của Phật, nó thấy lửa đã biến thành nước. Phật lực là thế và Pháp lực là lời Phật dạy, hay kinh điển, nhưng phải nhờ sự hành trì của chư Tăng, kinh mới phát huy được. Vì kinh để trong tủ không thể phát huy sức mạnh, nhưng chư Tăng sử dụng kinh để tu hành thì phát huy đạo lực và sanh ra pháp lực.

Ngày nay, Phật đã vào Niết-bàn, chúng ta chỉ còn Pháp lực và Tăng lực, tức còn kinh của Phật và chư Tăng thọ trì kinh điển, tạo thành sức mạnh tâm linh, mới dùng sức mạnh tâm linh này để siêu độ người chết, hoặc an tâm cho người sống.

Chúng ta chọn ngày rằm tháng 7 để cúng dường chư Tăng, nhờ chư Tăng siêu độ cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã quá vãng. Vì trong ba tháng an cư kiết hạ, chư Tăng hành trì pháp Phật, tạo thành thần lực của chư Tăng, nên sự cầu nguyện có linh nghiệm. Như vậy, vị sư nào chuyển biến được sức mạnh của kinh, của pháp Phật thì giọng tụng kinh của họ tác động người quá vãng nghe và cảm nhận được lời Phật dạy, khiến họ hết khổ đau, được giải thoát.

Hôm nay là ngày Tự tứ, quý vị đủ duyên tham dự. Tôi mong mọi người giữ tâm thanh tịnh, đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, chỉ giữ lòng thành của mình mong nhờ thần lực của chư Tăng để siêu độ được vong linh của người thân. Cầu nguyện tất cả hương linh nhờ pháp lực được siêu thoát.