BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Sự thật đường Tu, vốn không dễ để chấp nhận

December 18, 2017

Ngày nay, có rất nhiều người tìm cầu sự thật, nhưng khi tìm thấy thì họ lại bỏ chạy, tại sao lại vậy… (?) Bởi sự thật nó rất trần trụi và cũng không dễ để chấp nhận.

Bởi niềm tin về cái bóng của sự thật đã phản chiếu và ăn quá sâu trong niềm tin của mỗi người, họ nhìn mọi thứ theo dạng mảnh vỡ từ cái bóng mà thôi, họ không muốn nhìn thấy toàn cảnh, không muốn chấp nhận sự thật, không muốn chấp nhận quy luật vốn là bất biến dù họ rất muốn tìm kiếm sự bất biến.



Sự tìm kiến đó đã trộn lẫn của cái Tôi cao thượng và cái Tôi ham muốn ở đó. Nên cái tôi nó không chấp nhận, nó phản ứng, nó bỏ chạy…

Tu không chỉ là ăn chay và khoác lên cái áo…, ăn chay chỉ là một thứ rất bề nổi mà thôi, ăn chay là phù hợp với thể trạng của bản thể tâm linh, bởi bản thể vốn thanh tịnh nên ăn chay thực chất không phải vì yêu thương động vật như là những người bạn, mà trước hết là yêu thương và tôn trọng bản thể vốn thanh tịnh của chính mình trước đã, chỉ có như vậy mình mới trở về với sự thanh tịnh của bản thể, sau đó mình mới yêu thương và tôn trọng sự sống của muôn loài như là những người bạn được, ở đó không có khoảng cách, nó là sự giao cảm và hòa quyện lẫn nhau…

Tu là sửa đổi, là phải vượt qua những tàng thức rắn chắc sâu bên dưới mới là một người Tu.

Tu không phải là học cách để lẫn tránh và che đậy, không phải là sự trốn chạy và dùng một cái gì đó để khỏa lấp, kể cả học và hành thiền… nếu không hiểu cốt lõi bản chất.

Ví dụ: Nỗi Sợ hãi nó ở rất sâu…

Nếu các Bạn sử dụng việc Tu tập chỉ để lẫn tránh nỗi sợ hãi thì đừng tu mà hãy dừng lại, nhìn ra cốt lõi và vượt qua nó trước.

Nếu bạn Tu để che đậy nỗi sợ hãi thì việc học và tu đó cũng nên vứt hết đi.

Nếu bạn tu mà làm cho cái Tôi sợ hãi to lên thì cũng nên vứt luôn… Nó là đồ giả các bạn!

Nếu bạn tu và thiền chỉ để đạt được sự bình an cho tâm trí thì cũng chỉ là sự khỏa lấp tạm thời, bởi vừa bước ra khỏi thiền là mọi thứ vẫn y chang vậy!

Nếu bạn tu và muốn rời khỏi thực tại để chạy tới với Niết bàn hay Cực lạc thì cũng chỉ là ảo tưởng của tâm trí mà thôi…chỉ là sự bỏ chạy thực tại, bởi vì bạn không có đủ Trí tuệ để chấp nhận và vượt qua nó ngay lúc này.

Khi không nhìn ra cốt lõi, thì mọi thứ chỉ tô đắp và che đậy một cách khéo léo dưới danh nghĩa của chữ Tu mà thôi, đó chỉ là chạy trốn.

Vào thời điểm này, mọi người đã trải nghiệm quá nhiều ký ức của khổ đau và mất mát, nên họ luôn luôn sợ, họ luôn nghi ngờ và có sự đề phòng, thế nên họ chỉ muốn tìm kiếm một sự an toàn vĩnh hằng vĩnh cửu mà thôi… Họ không chấp nhận sự sống vốn luôn luôn vận động không bao giờ ngừng nghỉ.

Thế nên mới có chuyện…

Mọi việc họ làm cũng vì nỗi sợ mà làm, hoặc không làm cái gì đó cũng vì nỗi sợ nên không làm… Họ sợ đủ mọi thứ, bởi lúc này, trên toàn thế giới, nơi nào cũng dao động và bất an…

Họ sợ đủ thứ…

Sợ chết… bởi không “thật biết” chết rồi mình về đâu. mình có về được nơi đó hay không…

Sợ bị người khác cười chê… nên phải cố gồng mình để thể hiện những điều tốt đẹp ra bên ngoài và đồng nhất mình với nó, rồi thì phải cố đè nén và che đậy những điểm yếu bên trong…

Sợ bị người khác xem thường… Bởi họ không nhận ra tàng thức nguyên thủy của mình để tự mình sống với lòng tự trọng của chính mình.

Sợ mình không có giá trị… Bởi họ đã đồng nhất giá trị của bản thể bên trong với những hành vi bên ngoài…

Sợ mình không được yêu thương và tôn trọng… Bởi họ không yêu thương và tôn trọng bản thể của chính mình.

Sợ mình bị bở rơi… Bởi họ không biết quay về và sống với Bản thể, chính bản thể mới bị bỏ rơi.

Sợ mình thất bại, sợ mất mát, sợ khổ đau… Bởi không nhận ra ích lợi và ý nghĩa cho sự thanh toán và trưởng thành trong những thất bại, mất mát và khổ đau…

Nỗi sợ ngày nay quá lớn…

Nên mọi người tìm kiếm những tấm áo lộng lẫy để trốn chạy khỏi nỗi sợ đang đuổi bắt họ, họ khoác lên những chiếc áo rất đẹp để che đậy, họ khoác lên giới luật để làm tấm bình phong với người khác… Họ muốn như vậy…

Còn bạn…?

Bạn đã vượt qua nỗi sợ của chính mình chưa?

Bạn tu vì không còn con đường nào để đi hay sao?

Bạn tu để chạy trốn khổ đau bằng một ảo tưởng về hạnh phúc, thay vì chấp nhận sự thật và chuyển hóa khổ đau? Mọi thứ chỉ là nỗi sợ mà thôi…

Nếu bạn vượt qua nỗi sợ của chính mình thì khi đó bạn mới có thể chấp nhận sự thật như nó vốn là vậy, và khi đó bạn sẽ không còn lạm dụng sự thật vào việc trốn tránh của chính mình…

Vượt qua nỗi sợ bạn sẽ “là yêu thương”, bạn sẽ là tôn trọng, bạn sẽ không có sự phân biệt, bạn sẽ làm được điều mà mình thật sự mong muốn.

Vượt qua nỗi sợ bạn mới có niềm hạnh phúc thật, niềm hạnh phúc đó lớn vô cùng.

Nỗi sợ sẽ khiến bạn đóng mình lại, co lại, đậy lại, khép lại…, và bạn chỉ yêu thương khi cái tôi nó thấy an toàn và phù hợp với nó mà thôi. Nỗi sợ nó khiến cho bạn phản ứng khi có cái gì đó khác với sự định dạng ban đầu mà cái tôi đã cố công tô vẻ và vun đắp.

Nỗi sợ khiến bạn trở nên méo mó, méo mó từ trong nhận thức dẫn đến tư duy méo mó, rồi cách nhìn méo mó, nên lời nói và hành động sẽ méo mó… Vậy kết quả sẽ thế nào?

Bạn sử dụng việc tu tập một cách rất mãnh liệt để đánh lừa tâm trí và phớt lờ mọi thứ đang hăm dọa và thách thức bạn?

Vậy thì, việc tu đó chỉ nhằm lừa dối tâm trí trong sự bình an tạm thời mà thôi, bởi gốc rễ nó vẫn còn nguyên ở đó, không ai chỉ cho bạn gốc rễ ở đâu và giải pháp như thế nào, bởi họ cũng không thấy bên trong họ thì làm sao họ có thể nhìn thấy được ở bên trong bạn?

Mọi thứ chỉ là bề nổi, gặp cơn gió là lung lay… Khác với sự thật, sự thật vốn chuyển động trong những quy luật bất biến…

Ảo tưởng là muốn rời khỏi sự thật, không chấp nhận sự thật vốn sống và luôn vận động, nên họ trở nên dao động trong sự vận động đó, dù bên ngoài họ vẫn cố tỏ ra bình thường… nhưng những cơn bão sẽ tiếp tục đến, cho đến khi nào ảo tưởng được lôi đi hết mới thôi.

Chúng ta hãy chấp nhận và tôn trọng một sự thật rằng: Phần đông những người tìm kiếm sự thật, khi gặp sự thật là co giò bỏ chạy… chạy thật nhanh, chạy càng xa càng tốt…

Bởi họ đã quá quen với sự thật ở dạng tưởng tượng của tâm trí, thế nên: Họ muốn đạt đến sự vĩnh hằng, và họ sẽ chọn 2 nơi:

Một là Niết bàn:

Thì đúng, Niết Bàn mãi mãi là vĩnh hằng, bởi ở đó không có sự sinh diệt của vật chất lẫn tinh thần, bởi mọi thứ nơi đó tồn tại ở dạng gốc… Linh hồn và vật chất đều ở dạng gốc, mọi thứ ở dạng gốc vốn vĩnh hằng.

Và họ muốn sự vĩnh hằng đó, bởi họ quá chán ngán với sự thay đổi và dao động, họ sợ sự thay đổi, họ muốn trốn tránh sự thay đổi… bởi với họ sự thay đổi là khổ đau.

Nếu các bạn hỏi họ, bạn từ đâu đến thì họ không trả lời được…

Thế nhưng, nếu bạn hỏi họ, Niết bàn là gì? họ sẽ nói là Ngôi nhà vĩnh cửu vĩnh hằng…, và họ sẽ tiếp tục nói với bạn rằng, kiếp người rất quý báu, tu mau để “trở về Nhà”… (!)

Nghĩa là, “Nhà hay Niết bàn” chính là nơi họ đã ra đi, có vậy phải không? nếu không, sao họ lại nói “trở về nhà” (?)

Thế có nghĩa là họ “tự phủ định và họ lại tự khẳng định” ngay trong sự hiểu biết của chính mình.

Bởi nếu nhà là chốn quay về, nghĩa là bạn đã từ đó và rời đi trước đây, để đến nơi này, đúng vậy không (?)

Thứ hai, Nếu Niết bàn là Vĩnh cửu không xuống thế giới hữu hình nữa, thì sao bạn không ở mãi mãi trên đó như bạn đã nói, mà bạn lại có mặt ở đây vào lúc này (?) bởi đó là nơi không đến không đi, vĩnh hằng vĩnh cửu mà…!

Bạn đã nhìn thấy chiều sâu ở đây phải không?

Sự mâu thuẩn bởi họ không chấp nhận toàn vẹn của sự thật, khi họ nói về mặt này họ sẽ phủ định mặt kia, khi họ nói về mặt trái họ phủ định mặt phải.

Họ không nhìn ra hai mặt, hai mặt ấy vốn không tách rời là: sự vĩnh cửu và sự vận động. Dù họ nói linh hồn là một thực thể sống, Tạo hóa là một cơ thể sống.

Đại cơ thể vốn nó là một thể thống nhất và luôn luôn sống, nó không có sự tách rời và nó luôn vận động cùng nhau trong một hệ thống quy luật bất biến, nên không thể có chuyện cái chân thì bước đi còn cái tay thì cứ nằm yên một chỗ… không có chuyện bạn cứ ở mãi trên ngôi nhà Niết bàn khi sự vận động đã chạm đến bạn, và ngược lại, không có chuyện bạn có thể bỏ nửa chừng để đi về nhà khi mối liên hệ giữa bạn vẫn níu bạn đi trong một cơ thể lớn.

Bạn chỉ là một tế bào trong đại cơ thể mà thôi, làm sao một tế bào có thể tự mình rời ra khỏi cơ thể một cách tự ý được chứ? có phải vậy không?

Hai là Thiên Đường hay Cõi Tây Phương Cực Lạc:

Mọi người cứ muốn đi đến đó…

Rất tốt, thế nhưng, khi bạn vào một công ty bạn phải đi qua vòng phỏng vấn của họ, và đáp ứng những tiêu chuẩn của công ty đó, phải vậy không?

Thiên đường có tiêu chuẩn của nó, không phải vậy sao?

Đâu phải cứ muốn là được, mọi thứ đều cần có sự thấu hiểu…

Nếu bạn bỏ lỡ hiện tại và mong mình sẽ có mộtương lai tốt đẹp chỉ là một giấc mơ, không có thật!

Bạn không thể chạy trốn mọi trách nhiệm và mọi tài khoản nợ mà có thể đi đến chốn không vương sầu muộn ấy.

Bạn không thể đến thế giới Hạnh phúc miên viễn đó nếu ở đây bạn bất an và khổ đau, bởi bạn không loại bỏ đi những tàng thức rắn chắc đang trói buộc ở bên trong bạn thì làm sao bạn có thể đồng thanh tương ứng với nơi đó được?

Đại vũ trụ là sự sống, nó luôn luôn vận động, không có bất cứ thứ gì là đứng yên mãi mãi, nó chỉ đứng yên tạm thời khi dòng chảy chưa chạm đến nó mà thôi.

Bạn sẽ ở Niết bàn khi phần vai của bạn chưa chạm tới mà thôi, khi chạm tới thì bạn sẽ có mặt ở đây… bởi nếu không thì làm sao bạn lại có mặt ở đây, Niết bàn là Vĩnh cửu mà.

Nếu bạn nói rằng: Thiên đường hay Cõi Tây Phương là ở trên Trời, hay còn gọi là thế giới tinh thần của thể vía… vậy ở trong thể vía làm sao bạn có thể trải nghiệm mọi thứ, ví dụ, các con ma làm sao nó có cơ thể để trải nghiệm, nó chỉ cảm nhận thông qua cảm xúc của tâm trí mà thôi, làm sao thật được, bạn biết rằng không nên cúng cho ma, bởi ma có ăn được đâu mà cúng, chỉ có thế giới hữu hình mới mang lại trải nghiệm thật cho linh hồn mà thôi.

Thiên đường ở các cõi trời chỉ là linh ảnh các bạn ạ, nó không phải là Thiên đường thật đâu.

Tốt lắm,

Với tôi, điều cần thì cứ nói, việc cần thì cứ làm, bởi tôi không muốn sau này, khi vỡ kịch đã hạ màn kết thúc thì mọi người choàng vào cho tôi một tràng hoa của sự khiếu nại…

Tôi không muốn vậy đâu, tôi cũng không bảo ai nên đi theo mình, bởi tôi đi theo sự thật, mà sự thật vốn không dễ dàng, vì cái tôi và niềm tin của bạn sẽ bị thách thức rất nhiều, nếu muốn đứng về phía sự thật thì bạn phải bỏ đi ảo tưởng, bạn phải loại bỏ những gì mâu thuẩn không thật mà bấy lâu nay bạn đã tô đắp.

Tôi chỉ muốn tràng hoa của tình yêu thương không điều kiện, tràng hoa của niềm hạnh phúc không vướng bận, tràng hoa của sự tôn trọng và sẻ chia không mong cầu mà thôi…

Quyết định là của mỗi người, và tôi luôn tôn trọng mọi quyết định, tôi luôn tôn trọng ở mọi nơi tôi đặt chân đến và họ cũng tôn trọng tôi, tôn trọng những việc tôi làm.

Tôi chỉ muốn đeo vào tràng hoa của niềm hạnh phúc và mãn nguyện hài lòng!

Đệ tử Phật - Người tu trì giới luật

December 18, 2017

Đệ tử của Phật là "Tu trì giới luật". Còn quyến thuộc của ma là "Hủy hoại giới luật", chẳng tuân thủ chế độ của Phật... Phàm là "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành". Ai giữ nghiêm chế độ của Phật, đây là đệ tử của Phật.



Kính thưa các quý vị thiện tri thức!

Phật giáo ngày nay, có thể nói là: "Vàng thau lẫn lộn, rồng rắn hỗn tạp". Tại vì sao?

Bởi vì, lúc ban sơ, khi ma vương thấy Thế Tôn thành Phật, nó dùng mọi thứ ma thuật để nhiễu loạn Thích Ca Mâu Ni Phật. Tuy nhiên, chẳng có cách chi phá hoại được cảnh giới của Phật. 

Ma vương này, trong khi chẳng còn phương pháp chi thi thố nữa. Hắn liền nói: 

"Hôm nay, tuy ta chẳng làm gì được ông. Nhưng tương lai, đến lúc Phật pháp của ông sắp diệt, ta có thể sai quyến thuộc, ma con, ma cháu của ta lẫn lộn trong Phật giáo của ông. Ta ăn cơm "Phật giáo" của ông, mặc y phục Phật giáo, nhưng ta phải "đá" trong bát cơm của ông; đem Phật giáo của ông, phá hoại đến thân thể chẳng còn miếng da nguyên vẹn."

Phật nghe được ma vương Ba-tuần phát ra những lời thệ nguyện ác độc này. Phật chẳng nhẫn nại được, cho nên ngài âu lo thời mạt pháp (Pháp nhược, ma cường): Rất nhiều đạo tràng bên trong đều có quyến thuộc của ma vương. Trên danh nghĩa là làm phật sự, trên thực tế là đang đảo loạn Phật giáo. 

Do đó có thể thấy được: Trong Phật giáo ngày nay, họ miệng thì nói lời của Phật giáo, nhưng trên thực tế, chẳng làm việc của Phật giáo khiến cho những Phật giáo đồ chính tín thông thường lòng tin bị lay động. Lay động rồi, cho nên cũng chẳng có con mắt trạch pháp nên không nhận ra ai là đệ tử Phật, ai là đệ tử của ma. 

Vậy nay, tôi dạy quý vị về con mắt trạch pháp:
 
Quý vị có thể quan sát thì phân biệt ra được chỗ khác nhau giữa đệ tử Phật và đệ tử của ma.

Đệ tử của Phật là "Tu trì giới luật". Còn quyến thuộc của ma là "Hủy hoại giới luật", chẳng tuân thủ chế độ của Phật. 

Chế độ của Phật là gì? Chế độ của Phật là dạy người chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng tự tư, chẳng tự lợi. Đừng nên vì lợi ích của riêng mình mà nói dối, lừa người. Phàm là những người nói dối lừa người, vừa quen biết thì anh biết hắn là con cháu của ma vương.

Họ chẳng tuân thủ giới luật của Phật. 

Phàm là "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành". Ai giữ nghiêm chế độ của Phật, đây là đệ tử của Phật. Muốn phân biệt "Đệ tử Phật, đệ tử ma", ta cần quan sát họ: Người "Phật giáo đồ" này họ có phải suốt ngày cứ mải tranh danh, mải đoạt lợi rồi cùng người đấu tranh. Lúc tâm đấu tranh vừa khởi dậy đồng thời tướng Tu la hiện ra rồi. Tướng Tu la hiện ra thì diện mạo của Tu la cũng đã lộ ra.

Anh lại xem họ có phải nịnh bợ những kẻ có tiền, coi rẻ người nghèo? Có phải suốt ngày, họ ở đó tính cái bài toán để kiếm ra tiền?

Chỗ của họ ngày ngày đều vô cùng náo nhiệt, vô cùng phồn hoa, cầu danh cầu lợi. Tại sao phải cầu danh, cầu lợi? Bởi vì họ ích kỷ. Họ, tại sao phải ích kỷ? Là vì muốn tư lợi. Bởi vì họ ích kỷ lại tư lợi, chẳng có tinh thần "đại công vô tư", chẳng có tinh thần "chí thành vô thiên".

Chỗ hành, chỗ làm trên mặt xem ra là thuộc về Phật Tông Chỉ, cuối cùng là muốn phá hoại Phật giáo. Như vậy, chúng ta phải nên nhận thức: "Đây là quyến thuộc của ma vương". Tuy tướng mạo giống như một "Phật giáo đồ", mà lại làm những việc thủ đoạn. 

Lúc đó, anh có thể nhận ra họ là "Phật giáo đồ" chân chính hay là ở trong Phật giáo để rồi buông trôi theo kẻ xấu, chẳng nói chân lý mà toàn nói những việc mê tín. Nói những lời khiến người ta chẳng biết theo bên nào là đúng.

Thật sự muốn làm một đệ tử của Phật, nhất định phải có con mắt trạch pháp.

Nếu anh chẳng có con mắt trạch pháp, trong Phật giáo, anh muốn làm việc thiện có thể ngược lại: trong thiện có ác, khiến cho thiện ác lẫn lộn thì là "lên chẳng đến trời, xuống chẳng đến đất", treo lơ lửng giữa không trung (hay còn gọi là treo lưng chừng trời). Như vậy, anh bảo có khổ sở hay không? 

Lên không lên, xuống không xuống. Muốn lên cũng chẳng thể lên, muốn xuống cũng chẳng thể xuống. Chẳng biết phải trải qua biết bao nhiêu trăm ngàn vạn ức kiếp mới có thể có cơ hội lại gặp được Phật pháp.

Quý vị thử nghĩ xem. Có phải ta nên đặc biệt, đặc biệt thận trọng một chút hay không?

Nhìn rõ lẽ thật

December 18, 2017

Thiền sư Đả Táo Đọa do đập bể ông Táo mà thành danh. Ngài tu ở vùng núi Xuân Sơn bên Trung Hoa với một số đồ chúng. Một hôm ngài dẫn chúng đi dạo núi, đến gần thung lũng thấy một miếu thờ, dân chúng làm thịt bò, trâu, heo, gà dâng cúng liên miên. Hỏi ra được biết vị thần Táo ở miếu này rất linh, cầu gì được nấy.


Nghe rồi, ngài cầm gậy vô miếu, thấy trên bàn thờ có để ba viên gạch, ngài lấy gậy gõ vào đó nói: “Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào?” Nói xong, ngài đập một gậy, ba viên gạch bể nát rơi xuống đất. Lát sau trên đường đi, gặp một vị áo xanh mũ xanh quỳ trước mặt. Ngài hỏi:

- Ông là ai?

- Con là thần Táo trong miếu đến tạ ơn Hòa thượng.

Ngài nói:

- Ta đã làm gì mà ngươi tạ ơn?

- Nhờ ơn Hòa thượng nói lý vô sanh mà con tỉnh ngộ, thác sanh lên cõi trời, bỏ thân đọa đày trong bao nhiêu đời ở tại miếu này.

Nói xong ông đảnh lễ rồi biến mất. Thị giả thấy vậy mới thưa:

- Bạch Hòa thượng, con hầu Ngài đã lâu mà không được nghe nói lý vô sanh, thần Táo này có phước gì mà Hòa thượng mới nói một câu ông liền ngộ?

Ngài lặp lại câu nói trên cho thị giả nghe và hỏi:

- Ông hội không?

- Dạ con không hội.

Ngài nói:

- Bể rồi! Bể rồi! Rơi rồi! Rơi rồi!

Thị giả liền ngộ.

Kể chuyện này để quý vị hiểu chỗ chúng tôi dùng chữ gá. Thần Táo gá vào đất gạch mà phải ở đó bao nhiêu năm, còn chúng ta gá vào cái gì? Gá vào đất nước gió lửa rồi chấp cho là mình, có đau khổ chưa? Cho là mình rồi thì giành hơn giành thua, chấp phải chấp quấy. Bao nhiêu tội nghiệp cũng từ đó mà ra. 

Nếu bây giờ nhớ thân này là cái mình gá, không có gì quan trọng, biết như vậy là hiểu lý vô sanh. Thân này là giả tạm, là mộng, mộng thì có gì thật đâu. Trong khi mộng, sanh cũng mộng, tử cũng mộng, sanh không thật sanh, tử không thật tử. Nhận được như vậy thì lý vô sanh hiện tiền.

Ngay thân này, nhận được lẽ thật thì thấy đạo, thấy đạo thì thoát ly sanh tử. Ngược lại, chúng ta cứ bám vào thân cho là thật, là quý rồi xem khổ vui, hơn thua là quan trọng, tức nhiên bị nó chi phối, không những trong hiện đời, mà cả lúc thọ thân sau. 

Cho nên ngay thân này chúng ta thức tỉnh, biết được nó là mộng thì tự nhiên có thể lần lần thoát ly, không bị nó lôi cuốn nữa. Thần Táo chỉ nhờ nghe câu “Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào?”, giựt mình thức tỉnh liền buông được ba miếng gạch đất và sanh lên cõi trời.

Chúng ta, khi biết rõ thân này do đất nước gió lửa hợp thành, không phải thật mình thì sao? Thật nhẹ nhàng biết mấy, nhưng ít ai chịu buông, cứ bám vào đó mà hơn thua phải quấy. Có những đêm ngồi ở ngoài trời, đuổi muỗi cắn, tôi rờ thấy xương, thấy thịt, tôi tức cười quá. Thân này thật không ra gì, gá vào nó cực quá. Gá từng khúc từng mảnh, mà cứ cho là mình. Từ đó bao nhiêu cái dở phát sanh, kể không thể hết. Vậy mà người ta cứ hài lòng, động đến là phản đối chống trả mãnh liệt.

Chúng ta chỉ cần thức tỉnh thân này tạm gá mượn, lấy nó làm bè qua sông, đừng nghĩ nó thật, rồi lo bồi bổ tô điểm đủ thứ mà chìm đắm, không qua sông được. Đức Phật có nói bài kệ:

Người hơn thì thêm oán,
Kẻ thua ngủ không yên.
Hơn, thua hai đều xả,
Ấy được yên ổn ngủ.


Người nào không nghĩ hơn thua mới ngủ yên. Nếu thấy mình thua thì oán hờn người hơn, tức quá ngủ không yên. Còn hơn người thì bị người oán. Sở dĩ chúng ta cung kính quý trọng Đức Phật, vì đứng trước ngang trái Ngài luôn nhẫn nhịn được.

Ngày nay chúng ta tu muốn người quý trọng mình, mà động tới sân si đủ thứ thì ai kính phục được? Người thật tu không giành hơn, không cho thắng người là thành công. Hơn thắng như thế là mê. Chúng ta tỉnh sáng phải giữ thái độ an bình, hòa nhã, không giận hờn.

Như chúng ta vào bệnh viện tâm thần thăm người thân. Vào đó mình không chọc ghẹo ai hết, nhưng họ xúm quanh chửi mình, lúc đó chúng ta nghĩ sao? Nên giận hay nên thương? Người bệnh tâm thần không biết phải quấy nên chửi mình, ta biết họ bệnh nên thương, chớ không giận. Cũng thế, chúng ta sống với mọi người chung quanh, có khi mình không làm việc xấu quấy mà họ cứ đổ cho ta xấu quấy, như vậy người đó tỉnh sáng hay bệnh? 

Việc không mà nói có, đó là bệnh. Họ cũng giống bệnh nhân tâm thần, nên ta thương chớ đâu có giận. Nếu gặp người bệnh tâm thần chửi, ta chửi lại, kẻ bàng quan sẽ nói sao? Ông kia điên gặp chị nọ khùng. Người không điên khi bị người điên chửi, không bao giờ chửi lại.

Người biết tu, gặp kẻ mê ta phải tỉnh, người kia điên chúng ta phải sáng suốt, chớ không ai ăn thua với người điên. Nhiều khi nghe một lời nói hết sức vô nghĩa mà ta lại nổi nóng, cãi nhau thành việc lớn. Từ đó làm khổ nhau, từ khổ này kéo đến khổ nọ. Trong đạo cũng vậy, nhiều chuyện rất nhỏ mà do không khéo hòa với nhau nên thành lớn.

Những điều tôi nói đây nhằm nhắc nhở cho cả Tăng Ni và Phật tử. Nếu chúng ta thức tỉnh được điều đó thì chuyện thoát ly sanh tử không khó. Nếu chúng ta mê hoài thì không biết chừng nào ra khỏi biển sanh tử. Cho nên chủ yếu Phật dạy lý vô ngã là như vậy. Thấy rõ thân này không phải thật ngã thì tự nhiên thoát ly sanh tử. Nếu thấy là thật ngã thì ngàn đời không bao giờ ra khỏi sanh tử, dù tu hạnh gì cũng thế. Đó là một lẽ thật.

Năm cũ sắp tàn, bước qua năm mới, chúng tôi mong rằng quý vị tại gia nỗ lực thực hành đúng tinh thần học hiểu của mình. Giới xuất gia lập chí đúng tinh thần người xuất gia, để chúng ta chuẩn bị cho năm mới, cương quyết tiến tới mục đích mình đã định.

Mong tất cả chuẩn bị cho năm mới đẹp đẽ hơn, mạnh mẽ hơn, cứng cỏi hơn để đạt được sở nguyện của mình. Đó là lời chúc đầu xuân của tôi.

Quan điểm của Phật giáo về vấn đề hợp tuổi nhau trong hôn nhân

December 18, 2017

Bàn về vấn đề hợp tuổi nhau trong hôn nhân, chúng ta thấy rằng người đời nói rất đúng: Hợp tuổi ko bằng hợp tính. Vấn đề hạnh phúc gia đình, cần nên cư xử tế nhị trong nhiều vấn đề, nó phụ thuộc vào cách đối đãi lẫn nhau chứ không phụ thuộc vào tuổi tác hay ngày giờ. Chúng ta phải nhìn nhận đúng vấn đề để không tạo nên tác nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân của bản thân hay của con cái mình.


Coi tuổi, ngày tháng cưới xin hẳn là tập tục, là thói quen của người xưa và người  nay cũng vậy. Coi tuổi để xem cặp đôi đó có hợp nhau về chuyện làm ăn, cách sống. Nhưng đó có phải là yếu tố quyết định đến hạnh phúc trong hôn nhân không? Đề tài Bàn về vấn đề hợp tuổi nhau trong hôn nhân sẽ giúp bạn giải quyết nghi vấn này! 

Hôn nhân là sự tự nguyện đến với nhau do bởi yêu thương nhau, gắn bó với nhau, sống không thể thiếu nhau giữa hai người khác phái hoặc cùng phái. Trong đạo Phật cũng ủng hộ về cuộc sống hôn nhân hạnh phúc dựa trên nền tảng đạo đức, chuẩn mực của người Phật tử tại gia. Điều đó thể hiện qua những bài kinh Đức Phật giảng dạy về nghĩa vụ của vợ chồng, cách để giữ hôn nhân bền vững. Và điều tất yếu rằng: Đức Phật không dạy bất kỳ điều nào về việc xem tuổi tác, ngày giờ hôn nhân.

Trước khi kết hôn, hai bên gia đình thường xem ngày tháng để tính đến chuyện cưới xin. Đó là hành động nhằm trấn an tâm lý của mọi người trước khi con cháu họ bước vào đời sống hôn nhân với một người khác. Đã không ít những cặp đôi yêu nhau tan vỡ và bất hòa vì việc xem bói toán tuổi tác và được phán: khắc khẩu, không hợp tuổi, hợp mệnh, xung khắc về làm ăn,…

Có thể nói đây là một trong những dạng mê tín mà người Phật tử chúng ta cần nhận dạng và đừng nên đặt nặng quá về vấn đề này để tránh gây ra những bi lụy không đáng tiếc.

Quan điểm của Phật giáo về vấn đề hợp tuổi nhau trong hôn nhân.

Ngoài việc chủ xướng đề cao lý nhân quả ra, Phật giáo không bao giờ chủ trương người Phật tử tin vào những điều gì khác, có tính cách tà tín, nhất là vấn đề bói toán, xem tuổi tác và ngày giờ tốt xấu để phán xét, đoán định vận mạng nơi quá khứ, hiện tại, vị lai.

Phật giáo chủ trương và luôn khuyến khích người Phật tử tin sâu lý nhân quả nghiệp báo, với mục đích là để chúng ta tìm ra nguyên nhân hình thành ác nghiệp, để từ đó tìm mọi phương cách khắc phục, hoán cải, những nhân xấu để trở thành nhân tốt. Đồng thời, cũng chuyển hóa những ác nghiệp trở thành thiện nghiệp. Có thế, thì mới cải thiện được đời sống của chúng ta ngày càng thăng hoa tốt đẹp hơn.

Theo Phật giáo, chuyện xảy ra “cơm không lành canh không ngọt” mất hòa khí trong gia đình đó không phải do tuổi tác không hợp nhau mà là do tập khí chủng nghiệp của mỗi người huân tập ở những môi trường sống khác nhau, mà người ta thường nói là tánh tình không hợp.

Khi nói tánh tình không hợp, ta phải xét tìm nguyên nhân lý do tại sao? Nếu bảo rằng, do tuổi tác, thì lẽ ra từ đầu chí cuối phải là xung khắc luôn luôn, chớ tại sao khi hợp khi khắc? Khi vui thì hợp, khi buồn thì khắc. Khi vừa ý thì hợp, khi trái ý thì khắc. Như vậy, sự xung khắc bất hòa nầy do đâu? Tại sao mỗi người không chịu tìm hiểu lại chính mình mà đổ thừa cho tuổi tác?

Mỗi người lớn lên trong từng điều kiện, môi trường giáo dục khác nhau sẽ hình thành nên lối sống và tính cách khác nhau. Không ai hoàn toàn giống ai. Chỉ hợp nhau ở một khía cạnh nào đó, như trình độ học vấn, sở thích, cá tánh… Đây mới chỉ là hợp nhau trong bước đầu. Hợp nhau trong cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Bước đầu bao giờ cũng rất là đẹp. Vì hai bên đều giữ kín những tật tánh xấu của mình. Không ai dám để lộ ra cái chân tướng của mình cho đối phương biết rõ.

Nhưng khi thành vợ chồng chung sống với nhau một thời gian, bấy giờ nó mới hiện ra rất nhiều thứ không hợp. Những thứ không hợp nầy, nó ẩn khuất tiềm tàng sâu kín, mà cả hai khó tìm thấy nhau. Nếu biết rõ nhau ngay từ lúc đầu, thì nguyện ước hôn nhân khó thành. Cho nên, cả hai đều phải che giấu.

Nhưng khi sống chung, thì biệt nghiệp cá tánh của mỗi người đều hiện rõ. Từ đó, cả hai mới nhận thấy có nhiều điểm bất đồng. Và mọi việc không còn như ý muốn ban đầu. Và cũng từ đó chiến tranh lạnh bắt đầu có cơ bộc phát.

Vậy nguyên nhân bất hòa gây ra chiến tranh nầy do đâu?

Vì cả hai không chịu tìm hiểu, bởi tìm hiểu thì mỗi người sẽ để lộ chân tướng xấu của mình ra, rồi vì bản ngã, vì tự ái, nên bây giờ chỉ còn có cách đổ thừa cho tuổi tác, cho ông tơ bà nguyệt se duyên không đúng, hay là do duyên nghiệp trớ trêu v.v… Nghĩa là phải tìm đủ mọi cách để chạy tội đổ thừa trách nhiệm cho kỳ được, chớ không ai chịu tìm hiểu lại lỗi lầm của chính mình.

Phật giáo, với cái nhìn của tuệ giác, không thể chấp nhận cho việc tránh né đổ thừa này. Thử hỏi trên đời có ai làm vừa ý mình hết không? Chính mình có đôi khi còn không vừa ý với chính mình, thì có ai mà làm vừa ý mình.

Như vậy, rõ ràng không phải do tuổi tác xung khắc mà là do nhiều yếu tố khác. Yếu tố nào gây ra sự bất hòa? Đó là điều mà người Phật tử cần phải truy nguyên tận nguồn gốc của sự bất hòa đó. Trên đời nầy, không có gì là không có nguyên nhân. Thường chúng ta hay mắc phải chứng bệnh chủ quan. Mà bệnh chủ quan là con đẻ của bệnh chấp ngã. Vì chấp ngã, nên cái gì mình cũng đúng hết. Mọi lỗi lầm đều do người kia gây ra, mà chúng ta không chịu tìm hiểu căn nguyên vấn đề của chính mình.

Cách chuyển hóa bất hòa

Muốn chuyển hóa thân tâm, từ những hạt giống xấu trở thành những hạt giống tốt, thì cần phải có trí huệ. Trí huệ hay chánh niệm rất thiết yếu trong đời sống. Khi có trí huệ hay chánh niệm kịp thời can thiệp, thì chắc chắn những hậu quả không tốt khó có thể xảy ra.

Khi sự việc xảy ra, ta phải tìm rõ nguyên nhân, chớ không nên đổ thừa bừa bãi. Tại sao phải nổi nóng gây ra mất hòa khí trong gia đình? Do nguyên nhân nào? Do tuổi tác hay do tánh nóng? Hay do những thứ gì khác, mà mình không chịu tìm ra. Tại sao mình hay đổ thừa người khác? Lý do nào mình hay đổ trút tội lỗi lên đầu người ta?

Khi hai người bất hòa, hãy bình tĩnh ngồi xuống để tư duy tìm rõ nguyên nhân trong tinh thần hòa giải, hòa hợp để tìm cách thiết lập cảm thông, chớ không nên tranh nhau ăn thua. Có tìm ra nguyên nhân, thì mới có hiểu và cảm thông nhau và từ đó mới có thể hóa giải mọi gút mắc bất hòa để rồi yêu thương quý kính nhau. Nếu thiếu hai yếu tố  “Hiểu” và “Thương” nầy, thì khó có thể cởi mở, hỷ xả sống chung hòa hợp với nhau được.

Mỗi người cần phải có cái nhìn sắc bén bằng tuệ giác trong việc cư xử với nhau.

Vì sống chung với nhau không sao tránh khỏi những cá tính bất đồng. Sự bất đồng đó, muốn dung hợp được, chỉ có một nhịp cầu duy nhất nối liền hai đầu lại với nhau, đó là “Hiểu” và “Thương”. Có hiểu và thương thì mới có tương kính và nhường nhịn nhau. Thiếu nhịp cầu nầy, thật khó có sự cảm thông.

Không cảm thông nhau, rất khó hòa hợp. Vì có tìm hiểu tánh tình, sở thích, và những cá tánh dị biệt khác, thì mới cảm thông và thương yêu nhau hơn. Từ đó mới có thể chuyển hóa mọi mâu thuẫn, xung khắc bất đồng cùng chảy về một dòng suối yêu thương và hạnh phúc. Có thế, thì người Phật tử mới có kỳ vọng xây dựng vững chắc được mái ấm hạnh phúc gia đình.